Nhận diện kẻ thù:
Nhận diện kẻ thù:
giặc ngoại xâm và giặc nội xâm
Dương Thái Sơn (06/2012)
Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, đảng Cộng sản Việt Nam mỗi khi bị dồn vào thế lâm nguy đều tìm cách giải nguy bằng chiến thuật kêu gọi liên hiệp với người quốc gia để chống kẻ thù chung, nhưng thật sự là chiến thuật tiêu lòn để hại người quốc gia. Phần lớn, người quốc gia thường có lý tưởng vì quốc gia dân tộc, nên chân thật và cả tin. Thế rồi, hầu hết những người liên hiệp với đảng Cộng sản đều bị ám hại hoặc bị cộng sản giăng bẫy cho kẻ thù sát hại.
Ngày nay, Cộng sản Việt Nam cũng đang tứ bề thọ địch và nguy khốn vì thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều không còn, nên họ đang giở ra trò cũ: liên hiệp với các đảng phái quốc gia để cùng chống Trung Cộng xâm lăng. Một vài tổ chức chống Cộng ở hải ngoại vội hưởng ứng và chủ trương liên kết với Cộng sản Việt Nam để chống Trung Cộng xâm lăng.
Là một đảng với lập trường chống Cộng để xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do, chúng ta cần kiểm điểm lại tình hình để xác định vị thế đấu tranh và không mắc mưu cộng sản lần nữa trong ván bài cứu nước, cứu dân.
1.- Hiễm họa ngoại xâm từ phương Bắc là một hiễm hoạ có thật.
Trung Quốc là kẻ thù từng xâm chiếm và đô hộ nước ta hơn một ngàn năm. Do đó, họ có tâm lý là luôn luôn xem nước ta là một Quận, Huyện của họ đã bị tách rời khỏi đất nước họ, và họ muốn thu hồi. Bởi vậy, mỗi khi nước họ hùng mạnh là họ có ngay ý nghĩ là phải đánh chiếm nước ta. Hồi trước 1975, ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Bắc Việt đã nhận vũ khí và sự yểm trợ của Trung Cộng để đánh chiếm Miền Nam, tức là đã nhận làm kẻ nội xâm để tiếp tay xâm lăng Miền Nam cho nước Tàu. Việc làm đó hoàn toàn đúng ý của Bắc Kinh: dùng xương máu người Việt để thôn tính Miền Nam Việt Nam cho Tàu. Hồi Đệ nhứt Cộng Hòa, ông Ngô Đình Nhu đã nhìn thấy rõ ý đồ này và ông đã viết rất rõ trong tác phẩm ‘’Chính Đề Việt Nam’’, dùng làm nền tảng cho Chính lược của Miền Nam. Tiếc thay, chính lược này đã bị bẻ gãy bởi sự phản bội của đồng minh.
Trong ‘’Chính Đề Việt Nam’’, ông Ngô Đình Nhu đã viết:
“Sự chia đôi lãnh thổ đã tạo thành hoàn cảnh cho sự chi phối và sự toan thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh, sau gần một thế kỷ vắng mặt. (..) Các lãnh đạo miền Bắc, khi đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.
Sở dĩ tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa hình thành, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.
Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm lối thoát cho các nhà lãnh đạo cộng sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nay họ vẫn tiếp tục ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng.
Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc, và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần nữa..(..)”
Viễn kiến của ông Ngô Đình Nhu, ngày nay đang là sự thật. Như vậy, thật rõ ràng đảng Cộng sản Việt Nam đã làm Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà, là một thứ giặc nội xâm tiếp tay cho giặc ngoại xâm , dùng xương máu của dân ta để thôn tính toàn cõi nước ta dâng cho Tàu.
2.- Hiễm họa nội xâm nằm ngay trong nước cũng là có thật.
Cộng sản Việt Nam hiện nay có chống Tàu thiệt không? Theo bản tin từ chánh phủ Việt Nam thì Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã sang Bắc Kinh dể bày tỏ sự tin cậy, trung thành với Bắc Triều, thúc đẩy sự hợp tác toàn diện. Như vậy là ngoan ngoãn bán nước, dâng nguyên vẹn dân tộc và đất nước cho Bắc Triều, theo phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt: « láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai » và tinh thần « láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt ». Ôi thôi, còn gì nước Nam !
Như vậy thì bản chất của hợp tác với Cộng sản Việt Nam để chống Trung Cộng là gì ?
a/- Cộng sản Việt Nam là kẻ thù nội xâm, họ thông đồng với giặc ngoại xâm để xiết cổ dân ta và dâng hiến đất nước cho Trung Cộng, chứ họ đâu có chống giặc xâm lăng. Người dân nào lên tiếng chống Tàu xâm lăng đều bị họ đàn áp thẳng tay như Luật sư Lê Chí Quang, bà Bùi thị Minh Hằng, nhạc sĩ Việt Khang và nhiều người khác nữa.
b/- Hợp tác với Cộng sản Việt Nam để chống Trung Cộng là lừa đảo và phản bội đồng bào, là « bàn tay nhuốm máu đồng bào », tiếp tay cho sự tồn tại của đảng bán nước.
c/-Các chính khách kêu gọi hợp tác với Cộng sản Việt Nam để chống Trung Cộng xâm lăng là có ý lập công với Cộng sản nhằm mưu đồ quyền lợi riêng tư nào đó, nhưng họ quên rằng họ đã tiếp tay kẻ bán nước, chứ không phải là cứu nước. Họ cũng giống như những kẻ nối giáo cho giặc đã dẫn giặc vào chiếm thành phố Huế hồi Tết Mậu Thân, bàn tay của họ đã cùng với cộng sản vấy máu đồng bào.
Kết luận: Để làm tròn nhiệm vụ cứu nước, cứu dân, người Việt Nam hiện nay cần phải chống cả hai thứ giặc: giặc nội xâm và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam cần sáng suốt nhìn thấy cấp lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đang biến màu như con cắc kè để lừa đảo đồng bào dưới hình thức kêu gọi đoàn kết, hợp tác chống kẻ thù xâm lăng từ phương Bắc, trong khi chính họ đã và đang rước kẻ thù vào nhà và tự do đi khắp nơi trong nước. Người dân nào ở trong nước lên tiếng chống giặc ngoại xâm thì bị giặc nội xâm đàn áp, bỏ tù ngay không thương tiếc.
Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tứ bề thọ nạn. Thiên thời đã hết vì Phong trào Cộng sản quốc tế đã tàn. Địa lợi không còn vì chỗ dựa là Trung Quốc, trước kia như răng với môi, nay thì răng đã cắn môi mà Cộng sản Việt Nam vẫn một mực ngoan ngoãn trung thành 16 chữ vàng và 4 tốt. Còn nhơn hòa thì lòng dân đang sôi nổi, thế của Đảng Cộng Sản với nhơn dân như là cá với nước sôi ! Lần này, Đảng Cộng sản đi vào tuyệt địa, xin đừng ai tiếp tay cứu Đảng Cộng sản nữa! Hết nạn cai trị độc tài bởi Đảng Cộng sản thì người Việt Nam mới có cơ hội hưng vận quốc gia, gìn giữ được truyền thống văn hóa dân tộc, đạo đức nước nhà, chấn dân khí, hậu dân sinh, phát triển đất nước, hầu có đủ sức mạnh và uy tín quốc tế để bảo vệ được bờ cõi và thu hồi những hòn đảo đã mất. Mong lắm thay !
Hưng Việt Đạo
Thursday, August 9, 2012
Thursday, July 19, 2012
Tư tưởng chính trị Dân bản của Cố GS. Nguyễn Ngọc Huy
Tư tưởng chính trị Dân bản của Cố GS. Nguyễn Ngọc Huy
Cố GS. Nguyễn Ngọc Huy đã chọn cho mình một lý tưởng chính trị phụng sự quốc gia dân tộc, nhưng phải trên nền tảng Dân bản, tức là lấy Dân làm gốc của quốc gia, của chánh quyền, cũng như cho mọi hoạt động chính trị. Vì thế chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi ông thành lập Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, ông đã đặt tiêu ngữ đầu tiên cho Liên Minh Dân Chủ Việt Nam là Dân Bản mà không phải là dân chủ. Lý do tại sao ?
GS. Huy đã giải thích như sau:
‘’Dân Bản có nghĩa là lấy dân làm gốc cho quốc gia và cho mọi hoạt động chính trị. Đây là một chủ trương được người Trung Hoa thời cổ nêu ra và được dân tộc Việt Nam thâu nhận từ ngàn xưa. Lý tuởng dân bản đã đưa các chánh quyền quân chủ tốt ngày xưa đến chủ trương bảo vệ người dân chống sự hiếp bức của kẻ nhiều thế lực và làm cho người dân no ấm. Với chánh sách quân điền tức là chánh sách chia ruộng đều cho dân áp dụng không ngừng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, các chánh quyền quân chủ Việt Nam trước đây đã giúp cho mọi người dân có một mảnh đất nhỏ để cày cấy mà mưu sinh. Vậy, lý tưởng dân bản có những nét giống với lý tưởng xã hội hiện tại. Nhưng nó khác với lý tưởng xã hội hiện tại ở chỗ nó không phải xây dựng trên chủ trương giai cấp đấu tranh và sự hận thù, mà xây dựng trên sự đoàn kết và thương mến giữa các giới người khác nhau trong dân tộc. Dùng lý tưởng dân bản làm tiêu ngữ, chúng ta vừa làm sống lại một truyền tống tốt đẹp cửa dân tộc Việt Nam vừa giải quyết các vấn đề xã hội một cách thích hợp, vừa tránh dùng chữ xã hội chủ nghĩa đã bị nhơn dân Việt Nam nhờm gớm từ khi bọn cộng sản chiếm được cả nước Việt Nam và áp dụng chánh sách xã hội chủ nghĩa dựa vào sự hận thù và giai cấp tranh đấu làm cho nhơn dân Việt Nam khổ sở diêu linh.’’(Sách Tài Liệu Huấn Luyện do Tổng Bộ Tuyên Huấn, LMDCVN, phát hành năm 1990, trang 548).
Tại sao Gs Huy đã không dùng chữ Dân Chủ như nhiều người thường dùng làm lý tưởng đấu tranh? Thực ra chữ Dân bản và Dân chủ khác nhau nhiều ở nội dung. Chữ Dân chủ chỉ nói lên khía cạnh quyền chính trị của con người mà thôi. Trong khi chữ Dân bản có ý nghĩa rộng lớn hơn ‘’Con người là gốc’’ của quốc gia, của xã hội, của chánh quyền, là chủ thể và đồng thời cũng là đối tượng phục vụ của mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,giáo dục,v.v… của chánh quyền, của quốc gia, của cộng đồng dân tộc, v.v…. Con người là gốc thì con người không thể bị hy sinh cho cái gì khác. Đó là dân bản mà cũng là nhân bản. Lý tưởng này có giá trị phổ quát và phù hợp với nền văn minh hiện nay cũng như với các nền văn hoá khác nhau trên thế giới. Bởi vậy, GS Huy đã đặt lý tưởng này đứng hàng đầu trong năm tiêu ngữ của LMDCVN : Dân bản, Tự Do, Độc lập, Hòa bình, Trung lập.
Hữu Sơn
Cố GS. Nguyễn Ngọc Huy đã chọn cho mình một lý tưởng chính trị phụng sự quốc gia dân tộc, nhưng phải trên nền tảng Dân bản, tức là lấy Dân làm gốc của quốc gia, của chánh quyền, cũng như cho mọi hoạt động chính trị. Vì thế chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi ông thành lập Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, ông đã đặt tiêu ngữ đầu tiên cho Liên Minh Dân Chủ Việt Nam là Dân Bản mà không phải là dân chủ. Lý do tại sao ?
GS. Huy đã giải thích như sau:
‘’Dân Bản có nghĩa là lấy dân làm gốc cho quốc gia và cho mọi hoạt động chính trị. Đây là một chủ trương được người Trung Hoa thời cổ nêu ra và được dân tộc Việt Nam thâu nhận từ ngàn xưa. Lý tuởng dân bản đã đưa các chánh quyền quân chủ tốt ngày xưa đến chủ trương bảo vệ người dân chống sự hiếp bức của kẻ nhiều thế lực và làm cho người dân no ấm. Với chánh sách quân điền tức là chánh sách chia ruộng đều cho dân áp dụng không ngừng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, các chánh quyền quân chủ Việt Nam trước đây đã giúp cho mọi người dân có một mảnh đất nhỏ để cày cấy mà mưu sinh. Vậy, lý tưởng dân bản có những nét giống với lý tưởng xã hội hiện tại. Nhưng nó khác với lý tưởng xã hội hiện tại ở chỗ nó không phải xây dựng trên chủ trương giai cấp đấu tranh và sự hận thù, mà xây dựng trên sự đoàn kết và thương mến giữa các giới người khác nhau trong dân tộc. Dùng lý tưởng dân bản làm tiêu ngữ, chúng ta vừa làm sống lại một truyền tống tốt đẹp cửa dân tộc Việt Nam vừa giải quyết các vấn đề xã hội một cách thích hợp, vừa tránh dùng chữ xã hội chủ nghĩa đã bị nhơn dân Việt Nam nhờm gớm từ khi bọn cộng sản chiếm được cả nước Việt Nam và áp dụng chánh sách xã hội chủ nghĩa dựa vào sự hận thù và giai cấp tranh đấu làm cho nhơn dân Việt Nam khổ sở diêu linh.’’(Sách Tài Liệu Huấn Luyện do Tổng Bộ Tuyên Huấn, LMDCVN, phát hành năm 1990, trang 548).
Tại sao Gs Huy đã không dùng chữ Dân Chủ như nhiều người thường dùng làm lý tưởng đấu tranh? Thực ra chữ Dân bản và Dân chủ khác nhau nhiều ở nội dung. Chữ Dân chủ chỉ nói lên khía cạnh quyền chính trị của con người mà thôi. Trong khi chữ Dân bản có ý nghĩa rộng lớn hơn ‘’Con người là gốc’’ của quốc gia, của xã hội, của chánh quyền, là chủ thể và đồng thời cũng là đối tượng phục vụ của mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,giáo dục,v.v… của chánh quyền, của quốc gia, của cộng đồng dân tộc, v.v…. Con người là gốc thì con người không thể bị hy sinh cho cái gì khác. Đó là dân bản mà cũng là nhân bản. Lý tưởng này có giá trị phổ quát và phù hợp với nền văn minh hiện nay cũng như với các nền văn hoá khác nhau trên thế giới. Bởi vậy, GS Huy đã đặt lý tưởng này đứng hàng đầu trong năm tiêu ngữ của LMDCVN : Dân bản, Tự Do, Độc lập, Hòa bình, Trung lập.
Hữu Sơn
Dân Tộc Sinh Tồn Trước Ðại Họa Mất Nước
Dân Tộc Sinh Tồn Trước Ðại Họa Mất Nước
Ngày 17 tháng 11 năm 2010
H,
Trong cuộc “Hội thảo quốc tế về Biển Ðông” lần thứ hai do Cộng sản Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn vào hai ngày 11 và 12 tháng 11 năm 2010 người được gọi là Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh [xem hình], từ Viện Luật pháp Quốc tế, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung quốc, khi đề cặp đến lịch sử Trung quốc và Việt Nam, đã có câu nói gây phẫn nộ dân Việt khắp nơi, từ quốc nội đến hải ngoại: “Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung quốc”. Sự kiện này đã khiến phóng viên Huỳnh Phan của Tuần Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn, đã hỏi ông rằng: “Vẫn theo cách lập luận về tính lịch sử của mình, tại sao ông không nhắc tới Hòa ước Pháp – Thanh năm 1887, khi nhà Thanh chấp nhận để người Pháp, nhân danh chính phủ An Nam, thực thi chủ quyền ở những quần đảo này? [Hoàng Sa, Trường Sa]” thì Vương Hàn Lĩnh im lặng, như một cách thú nhận rằng ông ta đã nói bừa, nên có thể coi cái Viện Luật pháp Quốc tế và học vị Tiến sĩ của ông ta chỉ là cái áo mặc ngoài cho ông ta lòe thiên hạ, khi đạp qua lịch sử, để bày tỏ tham vọng bá quyền của một anh Tàu xấc xược.
Câu nói của Vương Hàn Lĩnh đã khiến Học giả Ðinh Kim Phúc, hiện là nghiên cứu viên của Khoa Ðông Nam Á học, Trường Ðại học mở TpHCM lên tiếng: “Cần nhắc lại cho ông nhớ rằng Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Thương mại (Hiệp ước Thiên Tân) được ký kết ngày 9/6/1885 giữa Lý Hồng Chương và Patenôtre, được Quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885 nhấn mạnh những gì đã ký ngày ngày 11 tháng 3 năm 1884 là đảm bảo Pháp sẽ rút khỏi Ðài Loan để có thương quyền ưu đãi và nhà Thanh phải từ bỏ bá quyền lịch sử ở Việt Nam. Trung quốc phải lập tức rút quân về biên giới Trung quốc và phải tôn trọng hiện tại và tương lai các hiệp ước đã ký và sẽ ký giữa Pháp và triều đình Huế. Hay nói một cách khác, quan trọng hơn là kết quả Hiệp ước Thiên Tân 1885 và Hoà ước Pháp-Thanh năm 1887 đã xóa bỏ vĩnh viễn cái bánh vẽ ‘thượng quốc – thuộc quốc’ giữa Việt Nam và Trung Hoa”.
Trước đó, vào tháng 4/2010, có người con gái tên Ðỗ Ngọc Bích [xem hình], được đài BBC ghi là Tiến sĩ giảng dạy tại Ðại học Yale danh tiếng của Hoa Kỳ, có bài viết nói rằng: “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung quốc, coi vua Trung quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…”
Câu nói cũng gây phẫn nộ khắp nơi, dân Việt từ quốc nội đến hải ngoại truy tìm tông tích kẻ đã coi thường lịch sử, xúc phạm dân tộc Việt. Nhờ đó, người của Ðại học Yale lên tiếng về sự sai lầm trong tư cách của cô. Tiến sĩ Erik L. Harms [xem hình], Phó Giáo sư Khoa Nhân chủng học [Assistant Professor of Anthropology] của Ðại học Yale cho biết: “Trên BBC người ta ghi cô Bích là Tiến sĩ giảng dạy ở Yale. Nó sai nhiều điểm. Ðiểm thứ nhất là cô Bích chưa có Tiến sĩ… Thực sự bây giờ cô Bích là sinh viên cao học tại Ðại học Hawaii trong Khoa Hoa Kỳ học (American Studies), chứ không phải là Tiến sĩ đang giảng dạy ở Yale…” Một người khác là Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn ở Úc đã thu thập được tư liệu về Ðỗ Ngọc Bích cho biết: “Cô ta học ở Ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, làm việc cho một vài cơ quan nước ngoài, rồi đi tu nghiệp ở Ðại học Hawaii…”. Ở trong nước, cũng Học giả Ðinh Kim Phúc, trong bài viết “Hãy Nhìn Cho Ðúng Lịch Sử” gởi cho BBCVietnamese.com, nơi đăng bài viết “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của Ðỗ Ngọc Bích, sau khi phân tích sự dốt nát và bôi bác lịch sử của Ðỗ Ngọc Bích đã kết luận rằng: “Tôi trộm nghĩ cô [Bích] đã phơi bày ‘trình độ’ hiểu biết và khả năng nghiên cứu nghèo nàn về sử học qua bài viết của mình trước mọi người Việt Nam khắp năm châu…”
Chỉ với 2 người được coi như có thế giá, cả hai cùng còn trẻ, coi như vừa trưởng thành sau cuộc chiến đẵm máu vì Trung quốc xâm lăng qua biên giới Việt Nam, đầu năm 1979, một thanh niên của Trung quốc và một thiếu nữ của Cộng sản Việt Nam, cho thấy tưởng như cái “đại họa mất nước” Việt Nam chỉ là lời nói bừa, bất chấp lịch sử của cả hai nước Trung quốc và Việt Nam, như trước đó Tố Hữu đã từng làm 2 câu thơ: “Bên kia biên giới là nhà / Bên đây biên giới cũng là quê hương”. Nhưng, cho dầu đó chỉ là lời nói bừa, nó cũng thể hiện ước mơ đô hộ Việt Nam của Trung quốc và Trung quốc đang từng bước tìm cách nuốt trọn Việt Nam trên khắp mọi mặt, với sự cấu kết của các cấp lãnh đạo Cộng sản Việt Nam; đặc biệt là chuyện cho thuê rừng dài hạn hơn nửa thế kỷ của 10 tỉnh biên giới; và khai thác bauxite ở Cao nguyên Trung phần, như một cách chiếm ngụ địa thế chiến lược hàng đầu khống chế chẳng những Việt Nam mà toàn cỏi Ðông Dương. Nó cho thấy “Ðại Họa Mất Nước” không người dân Việt nào không nghe nhức nhối và không tìm cách đấu tranh ngăn chặn.
Nhằm mục đích cảnh giác dư luận trong và ngoài nước về “Ðại Họa Mất Nước” đó, mới đây, qua 2 lá Thư Cho Con liên tiếp, cho biết cuốn phim “ÐẠI HỌA MẤT NƯỚC” [xem hình bìa cuốn DVD đã hoàn tất] vừa được Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy chủ trương thực hiện với sự hỗ trợ của National Congress of Vietnamese Americans, Ðảng Tân Ðại Việt, Câu Lạc Bộ Ðằng Phương, Saigon for Saigon Movement, Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam, Nguyễn Ngọc Huy Foundation, Wei Jingsheng Foundation, The Jamestown Foundation, Ðài Truyền Hình VATV, Nhóm Việtlist, Viện Việt Học. Tuần vừa qua, nó được trình chiếu ra mắt ở 2 thành phố lớn của Úc là Sydney và Melbourne; và sẽ được tiếp tục trình chiếu ở khắp nơi, từ Canada đến Âu châu, Hoa Kỳ; đồng thời cũng sẽ được gởi tặng đồng bào trong và ngoài nước trong thời gian ngắn tới đây để mọi người cùng nhận diện đại họa và cùng góp sức đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi đại họa mất nước.
Riêng tại miền Bắc California, 3 địa điểm dự trù được trình chiếu ra mắt cùng lúc với cuộc Hội thảo về Dân Tộc Sinh Tồn Trước Ðại Họa Mất Nước, do Ðại Gia đình Nguyễn Ngọc Huy và các đảng Tân Ðại Việt, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng… cùng tổ chức để được cùng mọi người thảo luận, cùng định hướng đấu tranh chung, tại 3 địa điểm:
Oakland, San Francisco;
San Jose, Milpitas;
Sacramento, Stockton.
Nói tới “Ðại Họa Mất Nước”, nhơn mùa giỗ cố dân biểu Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân [qua đời ngày 12/11/2001 tại Sài Gòn], người lãnh đạo tài ba của Ðảng Tân Ðại Việt và Phong trào Quốc gia Cấp tiến, người viết xin được lắng lòng tưởng niệm người quá cố; và bùi ngùi nhớ lại câu nói để đời của ông là “làm việc nước phải thấy nước”.
Bây giờ, trong cuộc đấu tranh giải thoát dân tộc khỏi đại họa mất nước người viết xin được nhìn nước, khi nhìn lại các giai đoạn đấu tranh cho dân tộc sinh tồn, ngay từ ngày đầu cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy khai triển chủ nghĩa “Dân Tộc Sinh Tồn” của cố đảng trưởng Trương Tử Anh, phát thảo năm 1938 dày độ 10 trang giấy, thành bộ sách “Dân Tộc Sinh Tồn, Chủ Nghĩa Quốc Gia Khoa Học” [2 cuốn] dày 880 trang, in tại Sài Gòn, năm 1964, mà tới khi qua đời Giáo sư chưa bổ khuyết xong các phần còn thiếu sót [tuy vậy, để khỏi bị mai một, sách cũng được các môn sinh của Người tái bản ở hải ngoại năm 2006]. Từ đó, người viết xin được một lần nữa nhìn nước trên bước đường đi tới.
Bởi cuộc đấu tranh giải thoát dân tộc khỏi đại họa mất nước là cuộc đấu tranh chung, nhưng khả năng và tầm nhìn của người viết có giới hạn, người viết không dám bước ra khỏi giới hạn hiểu biết của mình, chi xin đề cặp tới các giai đoạn đấu tranh kể từ khi Ðảng Tân Ðại Việt được thành lập ngày 14/11/1964, đánh dấu chuyển biến thức thời của một đảng chánh trị công khai hoạt động xây dựng Miền Nam Việt Nam thành một Quốc gia Dân chủ Pháp trị.
Dầu vậy, Tân Ðại Việt cũng chưa phải là một đảng quần chúng có thể tham gia tích cực trong các cuộc bầu cử để bước vào các cơ quan Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp…, từ trung ương đến địa phương, để trực tiếp tham gia vào việc trị nước theo đúng tinh thần Dân chủ Pháp trị, nên sau đó Phong trào Quốc gia Cấp tiến được thành lập, vào cuối năm 1968, với 2 nhơn vật lãnh đạo hàng đầu là Giáo sư Nguyễn Văn Bông và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Ðây là một tổ chức quần chúng gồm 3 thành phần chánh hiện diện ngay từ lúc khởi đầu, gồm:
Thành phần dân cử: gồm có các dân biểu, nghị sĩ như Mả Xái, Nhan Minh Trang, Trương Vĩ Trí, Trần Minh Nhựt, Nguyễn Văn Tiết, Nguyễn Văn Quí, Phạm Ngọc Hợp…
Thành phần chuyên viên, trí thức: gồm có Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Giáo sư Tạ Văn Tài, Giáo sư Trần Minh Xuân, Bác sĩ Nguyễn Minh Tân, Kỹ sư Trần Ngọc Lân, Kỹ sư Quách Huệ Lai…
Thành phần đảng phái, tôn giáo: gồm có VNQDÐ (hệ phái Nguyễn Tường Bá), Việt Nam Phục Quốc Hội / Cao Ðài (Thiếu Tướng Trương Lương Thiện), Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng / Hòa Hảo (Ðại Tá Trương Công Cừu), Ðảng Tân Ðại Việt, một hệ phái Tin Lành (Mục Sư Ngô Minh Thạnh)…
Cuộc đấu tranh noi theo chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn đã gặt hái được những thành quả khích lệ khi Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy được Chánh quyền giao cho công tác Phát triển, Bình định và Xây dựng nông thôn, đúng như lời nhận xét của Giáo sư Stephen B. Young [xem hình], trong bài viết ngày 4 tháng 2 năm 2006 [Bính Tuất], sau mùa giỗ cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy [tháng 7/2005], thường được tổ chức ở nhiều nơi, được đăng trên Việt Báo và một số báo Việt ngữ, rằng:
“…Ông Thiệu áp dụng chánh sách Phát triển, Bình định và Xây dựng nông thôn của GS Huy. Các điều căn bản của chánh sách này cũng dễ tìm thấy trên hai quyển Dân Tộc Sinh Tồn. Chánh sách của GS Huy về bình định phát triển nông thôn là nhằm áp dụng những nguyên tắc sinh tồn của lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn. Chánh sách này áp dụng một cái nhìn rất là rộng rãi và ai ai cũng có thể tham gia vào công cuộc xây dựng để mà phát triển đất nước. Tức là, mọi người thuộc cộng đồng dân tộc Việt Nam đều có giá trị, có quyền nói, có phép được hưởng các lợi ích của Chính phủ như nhau… Chương trình Bình định Xây dựng nông thôn theo đường lối Dân Tộc Sinh Tồn hoàn toàn thành công. Chiến lược Cộng Sản Hà nội tính cướp miền Nam bằng một thứ chiến tranh du kích bạo lực đã đưa đến sự thất bại hoàn toàn. Năm 1972, Hà nội phải xâm lăng miền Nam bằng hết tất cả các sư đoàn Bộ Ðội Bắc Việt. Nhưng không thắng nổi, rút cuộc, Hà nội phải chấp nhận Hiệp Ðịnh Paris để cho người Mỹ rút hết rồi mới đánh trả lại Việt Nam Cộng Hòa vài năm sau. Như vậy, theo tôi, cố GS Nguyễn Ngọc Huy là tác giả chính của lý thuyết giúp sự thành công của Việt Nam Cộng Hòa chống mưu đồ của Ðảng Cộng Sản chiếm lấy cho riêng mình cơ cấu chính quyền Việt Nam từ Nam Quan đến Cà Mau… Chính trị chỉ là việc phối hợp, khuyến khích các sức mạnh và các khuynh hướng đương vận hành tự nhiên trong vũ trụ và trong lòng người mà thôi. Với cái nhìn này của GS Huy, lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn trở thành một lý thuyết chính trị tự do dân chủ hợp với các chế độ dân chủ hiến trị, Nhà Nước tuyệt đối tôn trọng luật pháp trong mỗi hoạt động của mình. Hơn nữa, theo cái nhìn của GS Huy, lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn là đòi hỏi sự đoàn kết, sự hợp tác, sự khoan dung giữa nhiều khuynh hướng, quyền lợi, tôn giáo, đảng phái, giai cấp, vân vân. Với những nguyên tắc này của lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn, chính trị phải khởi xướng lên từ dân làm căn bản, không đi từ chính quyền ở trên xuống tới dân. Chính trị hiểu cho đúng không phải là hành động độc quyền, độc tài, không nhất thiết phải ép buộc người ta theo ý mình. Chính trị hiểu cho đúng nghĩa theo lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn là một công cuộc phức tạp, xây dựng lực lượng của dân, phải theo sự mong muốn của dân và phải làm việc từng bước một… GS Nguyễn Ngọc Huy sống và làm việc trong một thời đại nhiều ngang trái đau buồn của dân tộc Việt Nam. Ông đã làm phúc bao nhiêu, cố gắng bao nhiêu, chịu khổ bao nhiêu, và gia đình hy sinh bao nhiêu, nhưng GS Huy vẫn không đạt được ước nguyện là mong giúp dân tộc thắng những tai hại mà Cộng Sản mang đến. Trong thơ Kim Văn Kiều, thi sĩ Nguyễn Du có kết luận rằng: ‘muôn sự tại trời’… Trong sự nghiệp giúp nước, có thể nói ông là người có công lớn giúp dân tộc Việt Nam hưởng được tự do dân chủ trong giai đoạn mà đất nước bị đắm chìm trong chiến tranh xâm lược. Công đức của ông thật rất xứng đáng được nhắc nhở và đề cao…”
Người viết hơi dài dòng nhắc lại lời của người Giáo sư nguyên Phụ tá Khoa trưởng trường Ðại học Luật khoa Harvard danh tiếng của Hoa Kỳ là để nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa “Dân Tộc Sinh Tồn” điều hướng cuộc đấu tranh của những tổ chức chánh trị gắn liền với đời hoạt động của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, trong công cuộc góp phần đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi Ðại Họa Mất Nước, mà cuốn phim được đề cặp tới bên trên là lời cảnh giác mọi người cần suy nghiệm.
Việc thu gọn trong vài trang giấy một bộ sách dày 880 trang là chuyện người viết không cách nào làm được, nhưng dầu sao cũng xin được trình bày cái tinh túy của Dân Tộc Sinh Tồn qua bản năng sinh tồn, một bản năng tổng hợp 3 bản năng vị kỷ, tình dục và xã hội; một bản tánh thiên nhiên hổn hợp với cơ thể con người. Nó xuất hiện và chi phối hết cả đời sống con người từ khi mới sinh ra cho đến khi qua đời.
Nghiên cứu kỹ hoạt động của con người xưa nay mọi người hẳn thấy mục đích chánh yếu của con người là mưu sự sinh tồn cho mình. Con người hoạt động để nuôi thân, để kéo dài và nâng cao sự sống của mình, cùng lúc với mưu cầu tự do phát biểu tình cảm, tư tưởng… và tổ chức đời sống riêng theo sở thích. Ngoài ra, con người còn muốn sau khi mình chết đi, còn lưu lại một phần sự sống của mình nơi trần thế, như đứa con nối dõi tông đường hay một công trình văn nghệ, tư tưởng nào đó. Tất cả cuộc đời của con người đều quây quần chung quanh hai chử Sinh Tồn: sinh tồn vật chất, sinh tồn cá nhơn, sinh tồn tinh thần, sinh tồn chủng loại và… sinh tồn đất nước.
Muốn sinh tồn, phải tranh đấu, như câu nói của một danh nhơn Pháp “Sống là tranh đấu”. Nói tới tranh đấu không thể không đề cặp tới câu nói của Ðức Chúa: “Ta đến không phải mang theo hòa bình mà là gươm dáo”.
Hai chữ “hòa bình” ở đây không có nghĩa là “bất động”, hòa binh không phải là im lặng, không phải là ngồi yên, như thứ “công chúa ngủ giữa rừng xanh” không được hoàng tử nào đánh thức, nếu cứ triền miên nằm ngủ, nếu cứ bất động, công chúa sẽ mòn mỏi chết theo thời gian; nếu không, khi tỉnh giấc công chúa sẽ già nua, da nhăn má hóp, răng rụng tóc trắng, lưng mỏi gối dùn… xuân sắc tàn phai, chẳng còn làm chi được nữa; “không mang theo hòa bình” không có nghĩa là “mang theo chiến tranh”; mà là “mang theo tinh thần chiến đấu” mang theo nỗ lực “đấu tranh để sinh tồn và phát triển”;
“Mang theo gươm dáo” không có nghĩa là “mang theo võ khí để chém giết nhau”, mà là “mang theo phương tiện để đấu tranh”, phương tiện cần có để sinh tồn và phát triển….
Ở đây, với chủ thuyết “Dân Tộc Sinh Tồn” trước “Ðại Họa Mất Nước”, cuộc đấu tranh phải hội đủ 3 điều kiện là Sức Mạnh, Xu Hướng Biến Cải và Hợp Quần. Ðể được sinh tồn con người cần có sức mạnh để tranh thắng; và con người cần theo xu hướng biến cải để cải tiến cách tranh đấu, để chuyển nguy thành yên, chuyển bại thành thắng, chuyển biến mọi mưu lược chánh trị, quân sự; khi mạnh thì dùng sức, khi yếu thì dùng chước; tận dụng mọi khả năng khả hữu để cải cách theo trào lưu, và đổi mới mọi phát triển kinh tế, tài chánh…. Ðiều này đã được chính Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy trả lời trong cuộc phỏng vấn của báo Tiền Tuyến, năm 1967, và được nhà văn Phan Lạc Phúc, tức ký giả Lô Răng, ghi lại trong bài “Hạc Vàng Bay Mất”, xin được trích lại nguyên văn:
“…Cuộc đời thường ấm lạnh, nên con người ta muốn sống còn phải ăn ở cho đúng thời tiết. Danh xưng thì cũng như cái áo mặc ngoài. Cốt là cái sự sống bên trong… Làm việc xã hội cũng như trồng một cái cây. Cái cây từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành, có bao giờ hình dáng y như thuở ban đầu đâu anh. Bao nhiêu lá đã rụng đi, bao nhiêu cành đã gãy xuống. Miễn là cái cây ấy lớn lên…” [trích trong Di Cảo 6 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Mekong-Tỵnạn, California, 1996, tr. 184-185].
Bên cạnh đó, sự hợp quần, sự đoàn kết, cũng rất cần thiết để tạo nên sức mạnh cho cuộc đấu tranh chung; bởi nếu đứng riêng một mình, người không đủ sức để giành thắng lợi. Nếu chẳng may vấn đề hợp quần, đoàn kết không thực hiện được thì mỗi cá nhơn hay đoàn thể đừng tạo thêm chia rẽ, đừng đả kích nhau, làm suy yếu tiềm lực đấu tranh chống kẻ thù chung. Nếu 10 cú đấm không hợp lại được để thành một cú đấm mạnh gấp 10 lần thì mỗi cú đấm riêng rẽ đấm vào kẻ thù chung trước mặt vẫn có sức mạnh nếu không bằng 10 lần thì ít ra cũng bằng năm bảy lần. Nếu “yêu nhau là cùng nhìn về một hướng” [Saint Exupery?] thì trong cuộc đấu tranh chung phải cốt nhìn về kẻ thù chung chớ đừng nhìn nhau, đả kích nhau… rồi lãng quên mục tiêu tối hậu là kẻ thù chung trước mặt.
Với chủ nghĩa “Dân Tộc Sinh Tồn”, cá nhơn không đòi hỏi dân tộc phải cung phụng cho mình nhiều quá khiến dân tộc phải suy yếu; ngược lại, dân tộc cũng không bắt buộc cá nhơn phải cung phụng nhiều quá khiến cho sự sinh tồn cá nhơn bị uy hiếp. Như vậy, phải làm sao cho cá nhơn và dân tộc được nương tựa nhau, gắn bó nhau như hai mặt của một đồng tiền; thiếu một mặt đồng tiền sẽ không còn chút giá trị nào; phải cố sao cho sự sinh tồn của cá nhơn được phát triển mà dân tộc cũng được hùng cường; để mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là sự bảo đảm chắc chắn nhứt cho sự sinh tồn của cá nhơn và của dân tộc.
Nhìn về “Ðại Họa Mất Nước”, để giải quyết đại họa mất nước, thiết yếu là phải đấu tranh cho dân tộc sinh tồn. Và để đấu tranh cho dân tộc sinh tồn, trong phạm vi giới hạn của Ðảng Tân Ðại Việt và những tổ chức gắn liền với cuộc đời đấu tranh của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, những thành viên trong Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy; tất cả phải bằng mọi cách nỗ lực hoàn mãn phương trình Nguyễn Ngọc Huy:
Ở quốc nội: Hợp lực cùng các cá nhơn và tổ chức đấu tranh Dân chủ hóa Việt Nam, hợp lực cùng toàn dân đẩy mạnh diễn biến hòa bình, thúc đẩy Cộng sản Việt Nam tự diễn biến, chuyển hóa độc đảng độc tài sang Ðộc lập, Tự do, Dân chủ, Hiến định và Pháp trị.
Ở hải ngoại: Bằng mọi phương tiện khả hữu tích cực yểm trợ cuộc đấu tranh ở quốc nội trên khắp các mặt nổi cũng như chìm.
Vận động Quốc tế Yểm trợ Việt Nam Tự do tích cực hơn nữa, hầu tạo thêm những thuận lợi cho việc chuyển hóa độc đảng độc tài sang Ðộc lập, Tự do, Dân chủ, Hiến định và Pháp trị.
Hẹn con thư sau,
Giáo Già
Ngày 17 tháng 11 năm 2010
H,
Trong cuộc “Hội thảo quốc tế về Biển Ðông” lần thứ hai do Cộng sản Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn vào hai ngày 11 và 12 tháng 11 năm 2010 người được gọi là Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh [xem hình], từ Viện Luật pháp Quốc tế, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung quốc, khi đề cặp đến lịch sử Trung quốc và Việt Nam, đã có câu nói gây phẫn nộ dân Việt khắp nơi, từ quốc nội đến hải ngoại: “Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung quốc”. Sự kiện này đã khiến phóng viên Huỳnh Phan của Tuần Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn, đã hỏi ông rằng: “Vẫn theo cách lập luận về tính lịch sử của mình, tại sao ông không nhắc tới Hòa ước Pháp – Thanh năm 1887, khi nhà Thanh chấp nhận để người Pháp, nhân danh chính phủ An Nam, thực thi chủ quyền ở những quần đảo này? [Hoàng Sa, Trường Sa]” thì Vương Hàn Lĩnh im lặng, như một cách thú nhận rằng ông ta đã nói bừa, nên có thể coi cái Viện Luật pháp Quốc tế và học vị Tiến sĩ của ông ta chỉ là cái áo mặc ngoài cho ông ta lòe thiên hạ, khi đạp qua lịch sử, để bày tỏ tham vọng bá quyền của một anh Tàu xấc xược.
Câu nói của Vương Hàn Lĩnh đã khiến Học giả Ðinh Kim Phúc, hiện là nghiên cứu viên của Khoa Ðông Nam Á học, Trường Ðại học mở TpHCM lên tiếng: “Cần nhắc lại cho ông nhớ rằng Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Thương mại (Hiệp ước Thiên Tân) được ký kết ngày 9/6/1885 giữa Lý Hồng Chương và Patenôtre, được Quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885 nhấn mạnh những gì đã ký ngày ngày 11 tháng 3 năm 1884 là đảm bảo Pháp sẽ rút khỏi Ðài Loan để có thương quyền ưu đãi và nhà Thanh phải từ bỏ bá quyền lịch sử ở Việt Nam. Trung quốc phải lập tức rút quân về biên giới Trung quốc và phải tôn trọng hiện tại và tương lai các hiệp ước đã ký và sẽ ký giữa Pháp và triều đình Huế. Hay nói một cách khác, quan trọng hơn là kết quả Hiệp ước Thiên Tân 1885 và Hoà ước Pháp-Thanh năm 1887 đã xóa bỏ vĩnh viễn cái bánh vẽ ‘thượng quốc – thuộc quốc’ giữa Việt Nam và Trung Hoa”.
Trước đó, vào tháng 4/2010, có người con gái tên Ðỗ Ngọc Bích [xem hình], được đài BBC ghi là Tiến sĩ giảng dạy tại Ðại học Yale danh tiếng của Hoa Kỳ, có bài viết nói rằng: “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung quốc, coi vua Trung quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…”
Câu nói cũng gây phẫn nộ khắp nơi, dân Việt từ quốc nội đến hải ngoại truy tìm tông tích kẻ đã coi thường lịch sử, xúc phạm dân tộc Việt. Nhờ đó, người của Ðại học Yale lên tiếng về sự sai lầm trong tư cách của cô. Tiến sĩ Erik L. Harms [xem hình], Phó Giáo sư Khoa Nhân chủng học [Assistant Professor of Anthropology] của Ðại học Yale cho biết: “Trên BBC người ta ghi cô Bích là Tiến sĩ giảng dạy ở Yale. Nó sai nhiều điểm. Ðiểm thứ nhất là cô Bích chưa có Tiến sĩ… Thực sự bây giờ cô Bích là sinh viên cao học tại Ðại học Hawaii trong Khoa Hoa Kỳ học (American Studies), chứ không phải là Tiến sĩ đang giảng dạy ở Yale…” Một người khác là Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn ở Úc đã thu thập được tư liệu về Ðỗ Ngọc Bích cho biết: “Cô ta học ở Ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, làm việc cho một vài cơ quan nước ngoài, rồi đi tu nghiệp ở Ðại học Hawaii…”. Ở trong nước, cũng Học giả Ðinh Kim Phúc, trong bài viết “Hãy Nhìn Cho Ðúng Lịch Sử” gởi cho BBCVietnamese.com, nơi đăng bài viết “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của Ðỗ Ngọc Bích, sau khi phân tích sự dốt nát và bôi bác lịch sử của Ðỗ Ngọc Bích đã kết luận rằng: “Tôi trộm nghĩ cô [Bích] đã phơi bày ‘trình độ’ hiểu biết và khả năng nghiên cứu nghèo nàn về sử học qua bài viết của mình trước mọi người Việt Nam khắp năm châu…”
Chỉ với 2 người được coi như có thế giá, cả hai cùng còn trẻ, coi như vừa trưởng thành sau cuộc chiến đẵm máu vì Trung quốc xâm lăng qua biên giới Việt Nam, đầu năm 1979, một thanh niên của Trung quốc và một thiếu nữ của Cộng sản Việt Nam, cho thấy tưởng như cái “đại họa mất nước” Việt Nam chỉ là lời nói bừa, bất chấp lịch sử của cả hai nước Trung quốc và Việt Nam, như trước đó Tố Hữu đã từng làm 2 câu thơ: “Bên kia biên giới là nhà / Bên đây biên giới cũng là quê hương”. Nhưng, cho dầu đó chỉ là lời nói bừa, nó cũng thể hiện ước mơ đô hộ Việt Nam của Trung quốc và Trung quốc đang từng bước tìm cách nuốt trọn Việt Nam trên khắp mọi mặt, với sự cấu kết của các cấp lãnh đạo Cộng sản Việt Nam; đặc biệt là chuyện cho thuê rừng dài hạn hơn nửa thế kỷ của 10 tỉnh biên giới; và khai thác bauxite ở Cao nguyên Trung phần, như một cách chiếm ngụ địa thế chiến lược hàng đầu khống chế chẳng những Việt Nam mà toàn cỏi Ðông Dương. Nó cho thấy “Ðại Họa Mất Nước” không người dân Việt nào không nghe nhức nhối và không tìm cách đấu tranh ngăn chặn.
Nhằm mục đích cảnh giác dư luận trong và ngoài nước về “Ðại Họa Mất Nước” đó, mới đây, qua 2 lá Thư Cho Con liên tiếp, cho biết cuốn phim “ÐẠI HỌA MẤT NƯỚC” [xem hình bìa cuốn DVD đã hoàn tất] vừa được Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy chủ trương thực hiện với sự hỗ trợ của National Congress of Vietnamese Americans, Ðảng Tân Ðại Việt, Câu Lạc Bộ Ðằng Phương, Saigon for Saigon Movement, Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam, Nguyễn Ngọc Huy Foundation, Wei Jingsheng Foundation, The Jamestown Foundation, Ðài Truyền Hình VATV, Nhóm Việtlist, Viện Việt Học. Tuần vừa qua, nó được trình chiếu ra mắt ở 2 thành phố lớn của Úc là Sydney và Melbourne; và sẽ được tiếp tục trình chiếu ở khắp nơi, từ Canada đến Âu châu, Hoa Kỳ; đồng thời cũng sẽ được gởi tặng đồng bào trong và ngoài nước trong thời gian ngắn tới đây để mọi người cùng nhận diện đại họa và cùng góp sức đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi đại họa mất nước.
Riêng tại miền Bắc California, 3 địa điểm dự trù được trình chiếu ra mắt cùng lúc với cuộc Hội thảo về Dân Tộc Sinh Tồn Trước Ðại Họa Mất Nước, do Ðại Gia đình Nguyễn Ngọc Huy và các đảng Tân Ðại Việt, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng… cùng tổ chức để được cùng mọi người thảo luận, cùng định hướng đấu tranh chung, tại 3 địa điểm:
Oakland, San Francisco;
San Jose, Milpitas;
Sacramento, Stockton.
Nói tới “Ðại Họa Mất Nước”, nhơn mùa giỗ cố dân biểu Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân [qua đời ngày 12/11/2001 tại Sài Gòn], người lãnh đạo tài ba của Ðảng Tân Ðại Việt và Phong trào Quốc gia Cấp tiến, người viết xin được lắng lòng tưởng niệm người quá cố; và bùi ngùi nhớ lại câu nói để đời của ông là “làm việc nước phải thấy nước”.
Bây giờ, trong cuộc đấu tranh giải thoát dân tộc khỏi đại họa mất nước người viết xin được nhìn nước, khi nhìn lại các giai đoạn đấu tranh cho dân tộc sinh tồn, ngay từ ngày đầu cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy khai triển chủ nghĩa “Dân Tộc Sinh Tồn” của cố đảng trưởng Trương Tử Anh, phát thảo năm 1938 dày độ 10 trang giấy, thành bộ sách “Dân Tộc Sinh Tồn, Chủ Nghĩa Quốc Gia Khoa Học” [2 cuốn] dày 880 trang, in tại Sài Gòn, năm 1964, mà tới khi qua đời Giáo sư chưa bổ khuyết xong các phần còn thiếu sót [tuy vậy, để khỏi bị mai một, sách cũng được các môn sinh của Người tái bản ở hải ngoại năm 2006]. Từ đó, người viết xin được một lần nữa nhìn nước trên bước đường đi tới.
Bởi cuộc đấu tranh giải thoát dân tộc khỏi đại họa mất nước là cuộc đấu tranh chung, nhưng khả năng và tầm nhìn của người viết có giới hạn, người viết không dám bước ra khỏi giới hạn hiểu biết của mình, chi xin đề cặp tới các giai đoạn đấu tranh kể từ khi Ðảng Tân Ðại Việt được thành lập ngày 14/11/1964, đánh dấu chuyển biến thức thời của một đảng chánh trị công khai hoạt động xây dựng Miền Nam Việt Nam thành một Quốc gia Dân chủ Pháp trị.
Dầu vậy, Tân Ðại Việt cũng chưa phải là một đảng quần chúng có thể tham gia tích cực trong các cuộc bầu cử để bước vào các cơ quan Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp…, từ trung ương đến địa phương, để trực tiếp tham gia vào việc trị nước theo đúng tinh thần Dân chủ Pháp trị, nên sau đó Phong trào Quốc gia Cấp tiến được thành lập, vào cuối năm 1968, với 2 nhơn vật lãnh đạo hàng đầu là Giáo sư Nguyễn Văn Bông và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Ðây là một tổ chức quần chúng gồm 3 thành phần chánh hiện diện ngay từ lúc khởi đầu, gồm:
Thành phần dân cử: gồm có các dân biểu, nghị sĩ như Mả Xái, Nhan Minh Trang, Trương Vĩ Trí, Trần Minh Nhựt, Nguyễn Văn Tiết, Nguyễn Văn Quí, Phạm Ngọc Hợp…
Thành phần chuyên viên, trí thức: gồm có Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Giáo sư Tạ Văn Tài, Giáo sư Trần Minh Xuân, Bác sĩ Nguyễn Minh Tân, Kỹ sư Trần Ngọc Lân, Kỹ sư Quách Huệ Lai…
Thành phần đảng phái, tôn giáo: gồm có VNQDÐ (hệ phái Nguyễn Tường Bá), Việt Nam Phục Quốc Hội / Cao Ðài (Thiếu Tướng Trương Lương Thiện), Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng / Hòa Hảo (Ðại Tá Trương Công Cừu), Ðảng Tân Ðại Việt, một hệ phái Tin Lành (Mục Sư Ngô Minh Thạnh)…
Cuộc đấu tranh noi theo chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn đã gặt hái được những thành quả khích lệ khi Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy được Chánh quyền giao cho công tác Phát triển, Bình định và Xây dựng nông thôn, đúng như lời nhận xét của Giáo sư Stephen B. Young [xem hình], trong bài viết ngày 4 tháng 2 năm 2006 [Bính Tuất], sau mùa giỗ cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy [tháng 7/2005], thường được tổ chức ở nhiều nơi, được đăng trên Việt Báo và một số báo Việt ngữ, rằng:
“…Ông Thiệu áp dụng chánh sách Phát triển, Bình định và Xây dựng nông thôn của GS Huy. Các điều căn bản của chánh sách này cũng dễ tìm thấy trên hai quyển Dân Tộc Sinh Tồn. Chánh sách của GS Huy về bình định phát triển nông thôn là nhằm áp dụng những nguyên tắc sinh tồn của lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn. Chánh sách này áp dụng một cái nhìn rất là rộng rãi và ai ai cũng có thể tham gia vào công cuộc xây dựng để mà phát triển đất nước. Tức là, mọi người thuộc cộng đồng dân tộc Việt Nam đều có giá trị, có quyền nói, có phép được hưởng các lợi ích của Chính phủ như nhau… Chương trình Bình định Xây dựng nông thôn theo đường lối Dân Tộc Sinh Tồn hoàn toàn thành công. Chiến lược Cộng Sản Hà nội tính cướp miền Nam bằng một thứ chiến tranh du kích bạo lực đã đưa đến sự thất bại hoàn toàn. Năm 1972, Hà nội phải xâm lăng miền Nam bằng hết tất cả các sư đoàn Bộ Ðội Bắc Việt. Nhưng không thắng nổi, rút cuộc, Hà nội phải chấp nhận Hiệp Ðịnh Paris để cho người Mỹ rút hết rồi mới đánh trả lại Việt Nam Cộng Hòa vài năm sau. Như vậy, theo tôi, cố GS Nguyễn Ngọc Huy là tác giả chính của lý thuyết giúp sự thành công của Việt Nam Cộng Hòa chống mưu đồ của Ðảng Cộng Sản chiếm lấy cho riêng mình cơ cấu chính quyền Việt Nam từ Nam Quan đến Cà Mau… Chính trị chỉ là việc phối hợp, khuyến khích các sức mạnh và các khuynh hướng đương vận hành tự nhiên trong vũ trụ và trong lòng người mà thôi. Với cái nhìn này của GS Huy, lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn trở thành một lý thuyết chính trị tự do dân chủ hợp với các chế độ dân chủ hiến trị, Nhà Nước tuyệt đối tôn trọng luật pháp trong mỗi hoạt động của mình. Hơn nữa, theo cái nhìn của GS Huy, lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn là đòi hỏi sự đoàn kết, sự hợp tác, sự khoan dung giữa nhiều khuynh hướng, quyền lợi, tôn giáo, đảng phái, giai cấp, vân vân. Với những nguyên tắc này của lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn, chính trị phải khởi xướng lên từ dân làm căn bản, không đi từ chính quyền ở trên xuống tới dân. Chính trị hiểu cho đúng không phải là hành động độc quyền, độc tài, không nhất thiết phải ép buộc người ta theo ý mình. Chính trị hiểu cho đúng nghĩa theo lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn là một công cuộc phức tạp, xây dựng lực lượng của dân, phải theo sự mong muốn của dân và phải làm việc từng bước một… GS Nguyễn Ngọc Huy sống và làm việc trong một thời đại nhiều ngang trái đau buồn của dân tộc Việt Nam. Ông đã làm phúc bao nhiêu, cố gắng bao nhiêu, chịu khổ bao nhiêu, và gia đình hy sinh bao nhiêu, nhưng GS Huy vẫn không đạt được ước nguyện là mong giúp dân tộc thắng những tai hại mà Cộng Sản mang đến. Trong thơ Kim Văn Kiều, thi sĩ Nguyễn Du có kết luận rằng: ‘muôn sự tại trời’… Trong sự nghiệp giúp nước, có thể nói ông là người có công lớn giúp dân tộc Việt Nam hưởng được tự do dân chủ trong giai đoạn mà đất nước bị đắm chìm trong chiến tranh xâm lược. Công đức của ông thật rất xứng đáng được nhắc nhở và đề cao…”
Người viết hơi dài dòng nhắc lại lời của người Giáo sư nguyên Phụ tá Khoa trưởng trường Ðại học Luật khoa Harvard danh tiếng của Hoa Kỳ là để nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa “Dân Tộc Sinh Tồn” điều hướng cuộc đấu tranh của những tổ chức chánh trị gắn liền với đời hoạt động của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, trong công cuộc góp phần đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi Ðại Họa Mất Nước, mà cuốn phim được đề cặp tới bên trên là lời cảnh giác mọi người cần suy nghiệm.
Việc thu gọn trong vài trang giấy một bộ sách dày 880 trang là chuyện người viết không cách nào làm được, nhưng dầu sao cũng xin được trình bày cái tinh túy của Dân Tộc Sinh Tồn qua bản năng sinh tồn, một bản năng tổng hợp 3 bản năng vị kỷ, tình dục và xã hội; một bản tánh thiên nhiên hổn hợp với cơ thể con người. Nó xuất hiện và chi phối hết cả đời sống con người từ khi mới sinh ra cho đến khi qua đời.
Nghiên cứu kỹ hoạt động của con người xưa nay mọi người hẳn thấy mục đích chánh yếu của con người là mưu sự sinh tồn cho mình. Con người hoạt động để nuôi thân, để kéo dài và nâng cao sự sống của mình, cùng lúc với mưu cầu tự do phát biểu tình cảm, tư tưởng… và tổ chức đời sống riêng theo sở thích. Ngoài ra, con người còn muốn sau khi mình chết đi, còn lưu lại một phần sự sống của mình nơi trần thế, như đứa con nối dõi tông đường hay một công trình văn nghệ, tư tưởng nào đó. Tất cả cuộc đời của con người đều quây quần chung quanh hai chử Sinh Tồn: sinh tồn vật chất, sinh tồn cá nhơn, sinh tồn tinh thần, sinh tồn chủng loại và… sinh tồn đất nước.
Muốn sinh tồn, phải tranh đấu, như câu nói của một danh nhơn Pháp “Sống là tranh đấu”. Nói tới tranh đấu không thể không đề cặp tới câu nói của Ðức Chúa: “Ta đến không phải mang theo hòa bình mà là gươm dáo”.
Hai chữ “hòa bình” ở đây không có nghĩa là “bất động”, hòa binh không phải là im lặng, không phải là ngồi yên, như thứ “công chúa ngủ giữa rừng xanh” không được hoàng tử nào đánh thức, nếu cứ triền miên nằm ngủ, nếu cứ bất động, công chúa sẽ mòn mỏi chết theo thời gian; nếu không, khi tỉnh giấc công chúa sẽ già nua, da nhăn má hóp, răng rụng tóc trắng, lưng mỏi gối dùn… xuân sắc tàn phai, chẳng còn làm chi được nữa; “không mang theo hòa bình” không có nghĩa là “mang theo chiến tranh”; mà là “mang theo tinh thần chiến đấu” mang theo nỗ lực “đấu tranh để sinh tồn và phát triển”;
“Mang theo gươm dáo” không có nghĩa là “mang theo võ khí để chém giết nhau”, mà là “mang theo phương tiện để đấu tranh”, phương tiện cần có để sinh tồn và phát triển….
Ở đây, với chủ thuyết “Dân Tộc Sinh Tồn” trước “Ðại Họa Mất Nước”, cuộc đấu tranh phải hội đủ 3 điều kiện là Sức Mạnh, Xu Hướng Biến Cải và Hợp Quần. Ðể được sinh tồn con người cần có sức mạnh để tranh thắng; và con người cần theo xu hướng biến cải để cải tiến cách tranh đấu, để chuyển nguy thành yên, chuyển bại thành thắng, chuyển biến mọi mưu lược chánh trị, quân sự; khi mạnh thì dùng sức, khi yếu thì dùng chước; tận dụng mọi khả năng khả hữu để cải cách theo trào lưu, và đổi mới mọi phát triển kinh tế, tài chánh…. Ðiều này đã được chính Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy trả lời trong cuộc phỏng vấn của báo Tiền Tuyến, năm 1967, và được nhà văn Phan Lạc Phúc, tức ký giả Lô Răng, ghi lại trong bài “Hạc Vàng Bay Mất”, xin được trích lại nguyên văn:
“…Cuộc đời thường ấm lạnh, nên con người ta muốn sống còn phải ăn ở cho đúng thời tiết. Danh xưng thì cũng như cái áo mặc ngoài. Cốt là cái sự sống bên trong… Làm việc xã hội cũng như trồng một cái cây. Cái cây từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành, có bao giờ hình dáng y như thuở ban đầu đâu anh. Bao nhiêu lá đã rụng đi, bao nhiêu cành đã gãy xuống. Miễn là cái cây ấy lớn lên…” [trích trong Di Cảo 6 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Mekong-Tỵnạn, California, 1996, tr. 184-185].
Bên cạnh đó, sự hợp quần, sự đoàn kết, cũng rất cần thiết để tạo nên sức mạnh cho cuộc đấu tranh chung; bởi nếu đứng riêng một mình, người không đủ sức để giành thắng lợi. Nếu chẳng may vấn đề hợp quần, đoàn kết không thực hiện được thì mỗi cá nhơn hay đoàn thể đừng tạo thêm chia rẽ, đừng đả kích nhau, làm suy yếu tiềm lực đấu tranh chống kẻ thù chung. Nếu 10 cú đấm không hợp lại được để thành một cú đấm mạnh gấp 10 lần thì mỗi cú đấm riêng rẽ đấm vào kẻ thù chung trước mặt vẫn có sức mạnh nếu không bằng 10 lần thì ít ra cũng bằng năm bảy lần. Nếu “yêu nhau là cùng nhìn về một hướng” [Saint Exupery?] thì trong cuộc đấu tranh chung phải cốt nhìn về kẻ thù chung chớ đừng nhìn nhau, đả kích nhau… rồi lãng quên mục tiêu tối hậu là kẻ thù chung trước mặt.
Với chủ nghĩa “Dân Tộc Sinh Tồn”, cá nhơn không đòi hỏi dân tộc phải cung phụng cho mình nhiều quá khiến dân tộc phải suy yếu; ngược lại, dân tộc cũng không bắt buộc cá nhơn phải cung phụng nhiều quá khiến cho sự sinh tồn cá nhơn bị uy hiếp. Như vậy, phải làm sao cho cá nhơn và dân tộc được nương tựa nhau, gắn bó nhau như hai mặt của một đồng tiền; thiếu một mặt đồng tiền sẽ không còn chút giá trị nào; phải cố sao cho sự sinh tồn của cá nhơn được phát triển mà dân tộc cũng được hùng cường; để mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là sự bảo đảm chắc chắn nhứt cho sự sinh tồn của cá nhơn và của dân tộc.
Nhìn về “Ðại Họa Mất Nước”, để giải quyết đại họa mất nước, thiết yếu là phải đấu tranh cho dân tộc sinh tồn. Và để đấu tranh cho dân tộc sinh tồn, trong phạm vi giới hạn của Ðảng Tân Ðại Việt và những tổ chức gắn liền với cuộc đời đấu tranh của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, những thành viên trong Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy; tất cả phải bằng mọi cách nỗ lực hoàn mãn phương trình Nguyễn Ngọc Huy:
Ở quốc nội: Hợp lực cùng các cá nhơn và tổ chức đấu tranh Dân chủ hóa Việt Nam, hợp lực cùng toàn dân đẩy mạnh diễn biến hòa bình, thúc đẩy Cộng sản Việt Nam tự diễn biến, chuyển hóa độc đảng độc tài sang Ðộc lập, Tự do, Dân chủ, Hiến định và Pháp trị.
Ở hải ngoại: Bằng mọi phương tiện khả hữu tích cực yểm trợ cuộc đấu tranh ở quốc nội trên khắp các mặt nổi cũng như chìm.
Vận động Quốc tế Yểm trợ Việt Nam Tự do tích cực hơn nữa, hầu tạo thêm những thuận lợi cho việc chuyển hóa độc đảng độc tài sang Ðộc lập, Tự do, Dân chủ, Hiến định và Pháp trị.
Hẹn con thư sau,
Giáo Già
Saturday, July 14, 2012
BIỂN ĐÔNG VÀ CHIẾN LƯỢC “BINH PHÁP CÔNG TÂM”
Thích Thanh Thắng
Nói đến chiến lược “binh pháp công tâm” không thể không nhắc tới người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Câu nói: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” của Nguyễn Trãi trước giặc Minh, gần như được tất cả người Việt Nam thuộc nằm lòng. Trải gần 600 năm nay đã trở thành tuyên ngôn cho tinh thần yêu nước, khát khao hòa bình của người Việt trước tất cả các thế lực xâm lăng.
Trong những ngày gần đây, vụ việc Trung Quốc mời thầu khai thác dầu trái phép trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đẩy mạnh xây dựng thành phố Tam Sa bao chiếm toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, đã trực tiếp đe đọa sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nếu không nói rằng đó là việc từng bước hiện thực hoá ý đồ xâm lược.
Trong lúc thế giới phản ứng về sự sai trái này của Trung Quốc, thì truyền thông Trung Quốc không ngại xuyên tạc thông tin, đánh lạc hướng những vấn đề bất ổn nội bộ, dẫn dư luận vào tranh chấp Biển Đông, cụ thể bằng việc mập mờ đánh lận con đen, biến những khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp, để “hợp thức hoá” đường lưỡi bò do Trung Quốc tự nghĩ ra, bất chấp luật pháp quốc tế và quyền lợi trên Biển Đông của những nước liên quan. Đồng thời Trung Quốc còn to tiếng dọa nạt láng giềng với thái độ trịch thượng “vừa ăn cướp vừa la làng”, thiếu văn hoá lễ độ trong ngoại giao.
Việt Nam đứng trên chính nghĩa, dựa vào luật pháp quốc tế và quyền bảo vệ chủ quyền để lên án hành vi xâm phạm trắng trợn của Trung Quốc. Dư luận quốc tế cho đến thời điểm này đã hiểu rõ hành vi độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc, nhận ra đường lưỡi bò là một yêu sách phi lý, là hình thức vẽ lại bản đồ thế giới bằng hành vi cưỡng bức.
Kể từ khi vẽ ra đường lưỡi bì phi lý, dư luận Trung Quốc nhiều lần kích động thái độ gây hấn, thù hằn dân tộc, hô hào sử dụng vũ lực đánh chiếm và dạy cho Việt Nam một bài học. Chính những ngôn ngữ thù hằn dân tộc một cách hạ cấp bên trong dư luận Trung Quốc đã dẫn tới sự hung hăng, táo tợn hơn trong hành vi xâm chiếm Biển Đông vừa qua, bất chấp việc vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC).
Trung Quốc ngoài miệng thì nói “hoà bình”, nhưng bên trong thì liên tục đe dọa sử dụng bạo lực. Không những thế Trung Quốc còn cho phát sóng bình luận trực tiếp trên truyền hình về tình hình Biển Đông để đánh lừa dư luận trong nước. Song giấy không gói được lửa, hàng loạt các tờ báo uy tín quốc tế đã đưa tin rằng Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và Philippine, bởi thực tế cái đường lưỡi bò phi lý không những không được luập pháp quốc tế công nhận, mà còn vấp phải sự phản đối của đa số những nước có biển trong khối ASEAN.
Chính các học giả Trung Quốc tham dự các hội nghị quốc tế về Biển Đông cũng không thể nói rõ đường chín đoạn là đường gì, nên chỉ biết vòng vo với cái gọi là “vùng nước lịch sử” đầy mơ hồ và phi pháp. Luật biển 1982 quy định rằng, mỗi quốc gia có vùng lãnh hải 12 hải lý và các đặc khu kinh tế gồm các khu vực biển mở rộng 200 hải lý (khoảng 370km) tính từ bờ biển của một quốc gia, trong phạm vi ấy, họ có toàn quyền khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Nhưng Trung Quốc đã tự cho mình cái quyền xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam khi ngang nhiên mời thầu cách bờ biển khu vực gần Nha Trang 57 hải lý, tương đương với 110 km.
Trong đối ngoại, Trung Quốc tự cho mình quan niệm “không kể mèo trắng hay mèo đen, hễ có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc, thì đều nên kết giao”, nhưng khi Việt Nam nâng cấp quan hệ với một số nước, trong đó có Mỹ, thì Trung Quốc lại tỏ ra bực tức. Việc bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, hay nâng cấp quan hệ ngoại giao là việc riêng của Việt Nam. Khi cái đường lưỡi bò còn đó, khi Trung Quốc xem Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, rồi hàm hồ phách lối nói rằng Việt Nam phải “thần phục” Trung Quốc, thì chẳng phải Trung Quốc đang tự cầm cái mâu mà đâm vào cái thuẫn của mình hay sao. Trung Quốc nghĩ họ sẽ lừa phỉnh được ai bằng cái luận điệu đạo đức giả về “hoà bình”, “cùng khai thác” khi cái đường lưỡi bò vẽ sát vào thềm lục địa của Việt Nam còn sờ sờ ra ở đó.
Lịch sử Việt Nam minh chứng, chúng ta là nước nhỏ, luôn giữ hoà hiếu với các nước láng giềng, nhưng một khi lãnh thổ bị xâm phạm, thì người dân Việt Nam vẫn dư thừa dũng khí để chỉ thẳng vào mặt chúng mà mắng về hành vi bá đạo, bất nhân bất nghĩa ấy.
Sự thành bại, thăng trầm của một dân tộc có mối liên hệ nhân quả trong nhiều giai đoạn dựng nước và giữ nước. Vì thế trước nguy cơ bị xâm lược, chúng ta phải giữ vững tinh thần truyền thống trong lịch sử chống ngoại xâm, đồng lòng nhất trí cùng toàn dân bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Trung Quốc đừng quên một quả bóng khi rơi xuống sẽ lại nảy cao hơn trước. Nhưng Việt Nam cũng cần sẵn sàng đối mặt với mọi tình huống, và muốn thoát ra khỏi bế tắc thì điều trước tiên chúng ta phải đừng làm cho mình bế tắc. Nỗi sợ hãi là một bế tắc, mà sợ hãi thì chưa ra trận, chưa mặc giáp đã thua. Dân tộc ta không bao giờ chịu khuất phục trước bom đạn, Trung Quốc ắt hẳn phải nhận ra điều đó.
Trung Quốc đã nuôi dưỡng ý đồ xâm chiếm biển đảo của Việt Nam từ lâu và họ đã chiếm mất Hoàng Sa của Việt Nam trong một hoàn cảnh lịch sử phức tạp, đầy biến động. Nay bằng phương pháp khuấy động rừng để doạ hổ, Trung Quốc không chỉ nhằm vào Việt Nam và Philippine, mà đó còn là dấu hiệu khởi đầu cho việc hiện thức hoá đường lưỡi bò phi lý. Trung Quốc đã chuẩn bị sẵn mọi phương cách, không ngại loại bỏ Việt Nam để vươn chiếm toàn bộ Biển Đông. Việt Nam là “láng giềng hữu nghị” với Trung Quốc và Philippine là đồng minh thân cận của Mỹ, nên việc gây hấn cùng một lúc, vừa là “phép thử” (cho cả khối ASEAN và Mỹ) vừa là sự tự cởi trói đối những tuyên bố về một “Trung Quốc trách nhiệm” mà lâu nay Việt Nam luôn được “an ủi” như vậy.
Với một đường lối cứng rắn trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc không chỉ đi ngược lại nhận thức chung đã ký kết với các nước ASEAN, mà còn chống lại xu hướng bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Chính bản thân Trung Quốc đã cho thấy sự thất bại trong ngoại giao và đang tự cô lập mình khi không ngần ngại biến các quốc gia láng giềng thành kẻ thù. Không thể có nhận thức “song phương” ở những vùng tranh chấp quốc tế, nên điều Trung Quốc đang làm là bằng mọi cách áp đặt, buộc nước khác phải tuân thủ sự phi lý của mình. Chính sự phi lý này khiến cho Trung Quốc bị động hơn bao giờ hết, đành phải làm bừa theo kiểu “đâm lao thì phải theo lao”.
Đáng tiếc hơn cả là hành động này đã mâu thuẫn với “chính sách mềm dẻo”, hay “sự trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn công bố đường lưỡi bò trên Biển Đông, Trung Quốc ngay lập tức đã đánh mất hình ảnh thân thiện ấy của chính mình. Trung Quốc càng đánh mất cơ hội tự điều chỉnh, khi lún sâu vào ngụy biện, liều lĩnh vứt bỏ nguyên tắc, không tiếc nhân cách của một nước lớn. Như vậy, cần phải thay đổi khẩu hiệu “trỗi dậy hoà bình” bằng khẩu hiệu “lãnh đạo là năng lượng”, “ngoại giao là tàu chiến”...
Trung Quốc không thể ngờ rằng việc quá chủ động lại hoá ra bị động. Chúng ta biết cái bẫy Trung Quốc đã được giăng ra kể từ khi họ công bố đường lưỡi bò, nên ai cũng có suy nghĩ lo lắng như nhau, nhưng chúng ta liệu có hoàn toàn bị động? Cần phải nói rằng, vì Trung Quốc quá chủ động, nên Trung Quốc tự rơi vào tình thế bị động khi phải lươn lẹo thanh minh thanh nga, phải lừa dối người dân trong nước, không hổ thẹn khi từ bỏ những nguyên tắc nhân cách nước lớn…
Chúng ta hoạt động khai thác thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là chúng ta đang chủ động một cách hợp pháp, hoà bình. Chỉ khi có những con cú nhòm nhà, chỉ khi có những kẻ ăn trộm xâm nhập thì chúng ta mới phải cảnh giác. Thế thì việc Trung Quốc trắng trợn xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thì càng làm cho chúng ta đã chủ động càng chủ động hơn. Cần phải tạo nhiều điều kiện hơn để người dân chủ động khi vạch mặt kẻ xâm lược, thay vì cứ phải sống trong cái tình cảnh “u u, minh minh” của một thứ quan hệ “bằng mặt mà không bằng lòng” kéo dài, trước một hiện thực họ đã quyết xâm chiếm (xâm lược) cho bằng được.
Quỷ kế ấy của Trung Quốc chỉ có thể thành hiện thực ở thời phong kiến, nhưng không thể thành hiện thực ở thời mà “ai cũng biết” này. Chí ít cho đến lúc này, trong nhận thức chung của toàn khối ASEAN và của những người đứng ngoài quan sát, thì chính Trung Quốc đang làm phức tạp tình hình Biển Đông. Chúng ta không để nước khác thỏa hiệp trên lưng mình, nhưng muốn làm được vậy chúng ta phải sống bằng dũng khí của chính mình. Dũng khí ấy chính là nội lực của toàn dân tộc. Chúng ta yêu hoà bình, nhưng luôn sống hiên ngang bằng sự tự vệ chính đáng, để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.
Trước đây, Trung Quốc thường hay sử dụng khái niệm “chủ nghĩa bá quyền” để phê bình Mỹ và một số nước phương Tây, nhưng nay chính bản thân Trung Quốc lại đưa ra những yêu sách phi lý nhằm chèn ép các nước nhỏ. Việc lấy lớn hiếp nhỏ, ỷ mạnh hiếp yếu, chẳng lẽ cũng là sự phát triển “mang màu sắc Trung Quốc”? Thực tế ứng xử của Trung Quốc cho thấy, không hề xuất hiện cái gọi là sự “trỗi dậy hoà bình” mà đó chỉ là một loại “thủ đoạn hoà bình” mà Trung Quốc đã triển khai từ giai đoạn trước để đánh lạc hướng dư luận quốc tế.
Cũng chính lúc này, lập luận “sự uy hiếp của Trung Quốc” mà phương Tây trước kia cảnh báo, chí ít đã có cơ sở thực tiễn để kết luận, hay nói cách khác đó là một cảnh báo đúng, khác xa với tất cả những gì mà Trung Quốc muốn nói thế giới và muốn thế giới nhìn mình như vậy. Từ nay “sự uy hiếp Trung Quốc” sẽ được dịp nhận thức trở lại không chỉ ở những nước lớn có sự “đối đầu truyền thống” với Trung Quốc như Nga, Mỹ, Ấn Độ, mà còn đem đến sự cảnh giác cao độ cho các quốc gia ven Biển Đông, hay các quốc gia ở châu Phi xa xôi. Người Trung Quốc sao không thể suy nghĩ nhiều hơn về câu nói của Khổng Tử: “Danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành”.
Việt Nam lúc này cần phải tranh thủ dư luận quốc tế, sẵn sàng cho mọi tình huống, quyết tâm cho sự tự vệ chính đáng của mình. Việc Trung Quốc tự vẽ ra đường lưỡi bò và quyết tâm xâm chiếm toàn bộ Biển Đông là khó thay đổi. Người ta từ lâu đã không còn tin Trung Quốc đứng về “thế giới thứ ba”, đứng về phía các nước nhỏ yếu. Trung Quốc đã nhanh chóng bộc lộ bộ mặt thật của một “chủ nghĩa bá quyền nước lớn”.
Trong tình thế bị xâm phạm chủ quyền, nếu các nước ASEAN không đoàn kết thì Trung Quốc sẽ ra sức bẻ gãy từng chiếu đũa. Chiến dịch sử dụng sức mạnh kinh tế để bẻ từng chiếc đũa của Trung Quốc đã được tính toán từ lâu khi ASEAN còn đó nhiều chia rẽ, bất đồng. Nhưng nếu tỉnh táo sẽ nhận ra, mọi đường biên giới đều là lá chắn của nhau, một khi nước tôi bị thôn tính thì nước anh cũng không thể mãi an toàn. Mọi sự mơ hồ về tình bạn đều phải trả giá trước sự yếm trá, lọc lừa. Trung Quốc có thừa thủ đoạn để làm điều đó và Việt Nam cũng có thừa kinh nghiệm lịch sử để nhìn ra thủ đoạn ấy của Trung Quốc.
Đứng trước kẻ mạnh, nếu chúng ta sợ thì nhất định bọn chúng sẽ lấn tới, do đó muốn thực hiện chiến lược “công tâm”, trước tiên phải có dũng khí lớn, quyết tâm lớn, và phải đánh tổng thể trên tất cả mặt trận thông tin, ngoại giao và thế trận lòng dân. Bởi thực tế, trước khi chờ người khác tôn trọng, thì bản thân mỗi người Việt Nam phải biết tự tôn trọng mình. Hơn hết, lãnh đạo phải biết tôn trọng ý chí nguyện vọng nhân dân, đồng lòng chung sức giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Nguồn: FB Thích Thanh Thắng.
Nói đến chiến lược “binh pháp công tâm” không thể không nhắc tới người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Câu nói: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” của Nguyễn Trãi trước giặc Minh, gần như được tất cả người Việt Nam thuộc nằm lòng. Trải gần 600 năm nay đã trở thành tuyên ngôn cho tinh thần yêu nước, khát khao hòa bình của người Việt trước tất cả các thế lực xâm lăng.
Trong những ngày gần đây, vụ việc Trung Quốc mời thầu khai thác dầu trái phép trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đẩy mạnh xây dựng thành phố Tam Sa bao chiếm toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, đã trực tiếp đe đọa sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nếu không nói rằng đó là việc từng bước hiện thực hoá ý đồ xâm lược.
Trong lúc thế giới phản ứng về sự sai trái này của Trung Quốc, thì truyền thông Trung Quốc không ngại xuyên tạc thông tin, đánh lạc hướng những vấn đề bất ổn nội bộ, dẫn dư luận vào tranh chấp Biển Đông, cụ thể bằng việc mập mờ đánh lận con đen, biến những khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp, để “hợp thức hoá” đường lưỡi bò do Trung Quốc tự nghĩ ra, bất chấp luật pháp quốc tế và quyền lợi trên Biển Đông của những nước liên quan. Đồng thời Trung Quốc còn to tiếng dọa nạt láng giềng với thái độ trịch thượng “vừa ăn cướp vừa la làng”, thiếu văn hoá lễ độ trong ngoại giao.
Việt Nam đứng trên chính nghĩa, dựa vào luật pháp quốc tế và quyền bảo vệ chủ quyền để lên án hành vi xâm phạm trắng trợn của Trung Quốc. Dư luận quốc tế cho đến thời điểm này đã hiểu rõ hành vi độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc, nhận ra đường lưỡi bò là một yêu sách phi lý, là hình thức vẽ lại bản đồ thế giới bằng hành vi cưỡng bức.
Kể từ khi vẽ ra đường lưỡi bì phi lý, dư luận Trung Quốc nhiều lần kích động thái độ gây hấn, thù hằn dân tộc, hô hào sử dụng vũ lực đánh chiếm và dạy cho Việt Nam một bài học. Chính những ngôn ngữ thù hằn dân tộc một cách hạ cấp bên trong dư luận Trung Quốc đã dẫn tới sự hung hăng, táo tợn hơn trong hành vi xâm chiếm Biển Đông vừa qua, bất chấp việc vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC).
Trung Quốc ngoài miệng thì nói “hoà bình”, nhưng bên trong thì liên tục đe dọa sử dụng bạo lực. Không những thế Trung Quốc còn cho phát sóng bình luận trực tiếp trên truyền hình về tình hình Biển Đông để đánh lừa dư luận trong nước. Song giấy không gói được lửa, hàng loạt các tờ báo uy tín quốc tế đã đưa tin rằng Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và Philippine, bởi thực tế cái đường lưỡi bò phi lý không những không được luập pháp quốc tế công nhận, mà còn vấp phải sự phản đối của đa số những nước có biển trong khối ASEAN.
Chính các học giả Trung Quốc tham dự các hội nghị quốc tế về Biển Đông cũng không thể nói rõ đường chín đoạn là đường gì, nên chỉ biết vòng vo với cái gọi là “vùng nước lịch sử” đầy mơ hồ và phi pháp. Luật biển 1982 quy định rằng, mỗi quốc gia có vùng lãnh hải 12 hải lý và các đặc khu kinh tế gồm các khu vực biển mở rộng 200 hải lý (khoảng 370km) tính từ bờ biển của một quốc gia, trong phạm vi ấy, họ có toàn quyền khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Nhưng Trung Quốc đã tự cho mình cái quyền xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam khi ngang nhiên mời thầu cách bờ biển khu vực gần Nha Trang 57 hải lý, tương đương với 110 km.
Trong đối ngoại, Trung Quốc tự cho mình quan niệm “không kể mèo trắng hay mèo đen, hễ có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc, thì đều nên kết giao”, nhưng khi Việt Nam nâng cấp quan hệ với một số nước, trong đó có Mỹ, thì Trung Quốc lại tỏ ra bực tức. Việc bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, hay nâng cấp quan hệ ngoại giao là việc riêng của Việt Nam. Khi cái đường lưỡi bò còn đó, khi Trung Quốc xem Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, rồi hàm hồ phách lối nói rằng Việt Nam phải “thần phục” Trung Quốc, thì chẳng phải Trung Quốc đang tự cầm cái mâu mà đâm vào cái thuẫn của mình hay sao. Trung Quốc nghĩ họ sẽ lừa phỉnh được ai bằng cái luận điệu đạo đức giả về “hoà bình”, “cùng khai thác” khi cái đường lưỡi bò vẽ sát vào thềm lục địa của Việt Nam còn sờ sờ ra ở đó.
Lịch sử Việt Nam minh chứng, chúng ta là nước nhỏ, luôn giữ hoà hiếu với các nước láng giềng, nhưng một khi lãnh thổ bị xâm phạm, thì người dân Việt Nam vẫn dư thừa dũng khí để chỉ thẳng vào mặt chúng mà mắng về hành vi bá đạo, bất nhân bất nghĩa ấy.
Sự thành bại, thăng trầm của một dân tộc có mối liên hệ nhân quả trong nhiều giai đoạn dựng nước và giữ nước. Vì thế trước nguy cơ bị xâm lược, chúng ta phải giữ vững tinh thần truyền thống trong lịch sử chống ngoại xâm, đồng lòng nhất trí cùng toàn dân bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Trung Quốc đừng quên một quả bóng khi rơi xuống sẽ lại nảy cao hơn trước. Nhưng Việt Nam cũng cần sẵn sàng đối mặt với mọi tình huống, và muốn thoát ra khỏi bế tắc thì điều trước tiên chúng ta phải đừng làm cho mình bế tắc. Nỗi sợ hãi là một bế tắc, mà sợ hãi thì chưa ra trận, chưa mặc giáp đã thua. Dân tộc ta không bao giờ chịu khuất phục trước bom đạn, Trung Quốc ắt hẳn phải nhận ra điều đó.
Trung Quốc đã nuôi dưỡng ý đồ xâm chiếm biển đảo của Việt Nam từ lâu và họ đã chiếm mất Hoàng Sa của Việt Nam trong một hoàn cảnh lịch sử phức tạp, đầy biến động. Nay bằng phương pháp khuấy động rừng để doạ hổ, Trung Quốc không chỉ nhằm vào Việt Nam và Philippine, mà đó còn là dấu hiệu khởi đầu cho việc hiện thức hoá đường lưỡi bò phi lý. Trung Quốc đã chuẩn bị sẵn mọi phương cách, không ngại loại bỏ Việt Nam để vươn chiếm toàn bộ Biển Đông. Việt Nam là “láng giềng hữu nghị” với Trung Quốc và Philippine là đồng minh thân cận của Mỹ, nên việc gây hấn cùng một lúc, vừa là “phép thử” (cho cả khối ASEAN và Mỹ) vừa là sự tự cởi trói đối những tuyên bố về một “Trung Quốc trách nhiệm” mà lâu nay Việt Nam luôn được “an ủi” như vậy.
Với một đường lối cứng rắn trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc không chỉ đi ngược lại nhận thức chung đã ký kết với các nước ASEAN, mà còn chống lại xu hướng bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Chính bản thân Trung Quốc đã cho thấy sự thất bại trong ngoại giao và đang tự cô lập mình khi không ngần ngại biến các quốc gia láng giềng thành kẻ thù. Không thể có nhận thức “song phương” ở những vùng tranh chấp quốc tế, nên điều Trung Quốc đang làm là bằng mọi cách áp đặt, buộc nước khác phải tuân thủ sự phi lý của mình. Chính sự phi lý này khiến cho Trung Quốc bị động hơn bao giờ hết, đành phải làm bừa theo kiểu “đâm lao thì phải theo lao”.
Đáng tiếc hơn cả là hành động này đã mâu thuẫn với “chính sách mềm dẻo”, hay “sự trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn công bố đường lưỡi bò trên Biển Đông, Trung Quốc ngay lập tức đã đánh mất hình ảnh thân thiện ấy của chính mình. Trung Quốc càng đánh mất cơ hội tự điều chỉnh, khi lún sâu vào ngụy biện, liều lĩnh vứt bỏ nguyên tắc, không tiếc nhân cách của một nước lớn. Như vậy, cần phải thay đổi khẩu hiệu “trỗi dậy hoà bình” bằng khẩu hiệu “lãnh đạo là năng lượng”, “ngoại giao là tàu chiến”...
Trung Quốc không thể ngờ rằng việc quá chủ động lại hoá ra bị động. Chúng ta biết cái bẫy Trung Quốc đã được giăng ra kể từ khi họ công bố đường lưỡi bò, nên ai cũng có suy nghĩ lo lắng như nhau, nhưng chúng ta liệu có hoàn toàn bị động? Cần phải nói rằng, vì Trung Quốc quá chủ động, nên Trung Quốc tự rơi vào tình thế bị động khi phải lươn lẹo thanh minh thanh nga, phải lừa dối người dân trong nước, không hổ thẹn khi từ bỏ những nguyên tắc nhân cách nước lớn…
Chúng ta hoạt động khai thác thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là chúng ta đang chủ động một cách hợp pháp, hoà bình. Chỉ khi có những con cú nhòm nhà, chỉ khi có những kẻ ăn trộm xâm nhập thì chúng ta mới phải cảnh giác. Thế thì việc Trung Quốc trắng trợn xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thì càng làm cho chúng ta đã chủ động càng chủ động hơn. Cần phải tạo nhiều điều kiện hơn để người dân chủ động khi vạch mặt kẻ xâm lược, thay vì cứ phải sống trong cái tình cảnh “u u, minh minh” của một thứ quan hệ “bằng mặt mà không bằng lòng” kéo dài, trước một hiện thực họ đã quyết xâm chiếm (xâm lược) cho bằng được.
Quỷ kế ấy của Trung Quốc chỉ có thể thành hiện thực ở thời phong kiến, nhưng không thể thành hiện thực ở thời mà “ai cũng biết” này. Chí ít cho đến lúc này, trong nhận thức chung của toàn khối ASEAN và của những người đứng ngoài quan sát, thì chính Trung Quốc đang làm phức tạp tình hình Biển Đông. Chúng ta không để nước khác thỏa hiệp trên lưng mình, nhưng muốn làm được vậy chúng ta phải sống bằng dũng khí của chính mình. Dũng khí ấy chính là nội lực của toàn dân tộc. Chúng ta yêu hoà bình, nhưng luôn sống hiên ngang bằng sự tự vệ chính đáng, để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.
Trước đây, Trung Quốc thường hay sử dụng khái niệm “chủ nghĩa bá quyền” để phê bình Mỹ và một số nước phương Tây, nhưng nay chính bản thân Trung Quốc lại đưa ra những yêu sách phi lý nhằm chèn ép các nước nhỏ. Việc lấy lớn hiếp nhỏ, ỷ mạnh hiếp yếu, chẳng lẽ cũng là sự phát triển “mang màu sắc Trung Quốc”? Thực tế ứng xử của Trung Quốc cho thấy, không hề xuất hiện cái gọi là sự “trỗi dậy hoà bình” mà đó chỉ là một loại “thủ đoạn hoà bình” mà Trung Quốc đã triển khai từ giai đoạn trước để đánh lạc hướng dư luận quốc tế.
Cũng chính lúc này, lập luận “sự uy hiếp của Trung Quốc” mà phương Tây trước kia cảnh báo, chí ít đã có cơ sở thực tiễn để kết luận, hay nói cách khác đó là một cảnh báo đúng, khác xa với tất cả những gì mà Trung Quốc muốn nói thế giới và muốn thế giới nhìn mình như vậy. Từ nay “sự uy hiếp Trung Quốc” sẽ được dịp nhận thức trở lại không chỉ ở những nước lớn có sự “đối đầu truyền thống” với Trung Quốc như Nga, Mỹ, Ấn Độ, mà còn đem đến sự cảnh giác cao độ cho các quốc gia ven Biển Đông, hay các quốc gia ở châu Phi xa xôi. Người Trung Quốc sao không thể suy nghĩ nhiều hơn về câu nói của Khổng Tử: “Danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành”.
Việt Nam lúc này cần phải tranh thủ dư luận quốc tế, sẵn sàng cho mọi tình huống, quyết tâm cho sự tự vệ chính đáng của mình. Việc Trung Quốc tự vẽ ra đường lưỡi bò và quyết tâm xâm chiếm toàn bộ Biển Đông là khó thay đổi. Người ta từ lâu đã không còn tin Trung Quốc đứng về “thế giới thứ ba”, đứng về phía các nước nhỏ yếu. Trung Quốc đã nhanh chóng bộc lộ bộ mặt thật của một “chủ nghĩa bá quyền nước lớn”.
Trong tình thế bị xâm phạm chủ quyền, nếu các nước ASEAN không đoàn kết thì Trung Quốc sẽ ra sức bẻ gãy từng chiếu đũa. Chiến dịch sử dụng sức mạnh kinh tế để bẻ từng chiếc đũa của Trung Quốc đã được tính toán từ lâu khi ASEAN còn đó nhiều chia rẽ, bất đồng. Nhưng nếu tỉnh táo sẽ nhận ra, mọi đường biên giới đều là lá chắn của nhau, một khi nước tôi bị thôn tính thì nước anh cũng không thể mãi an toàn. Mọi sự mơ hồ về tình bạn đều phải trả giá trước sự yếm trá, lọc lừa. Trung Quốc có thừa thủ đoạn để làm điều đó và Việt Nam cũng có thừa kinh nghiệm lịch sử để nhìn ra thủ đoạn ấy của Trung Quốc.
Đứng trước kẻ mạnh, nếu chúng ta sợ thì nhất định bọn chúng sẽ lấn tới, do đó muốn thực hiện chiến lược “công tâm”, trước tiên phải có dũng khí lớn, quyết tâm lớn, và phải đánh tổng thể trên tất cả mặt trận thông tin, ngoại giao và thế trận lòng dân. Bởi thực tế, trước khi chờ người khác tôn trọng, thì bản thân mỗi người Việt Nam phải biết tự tôn trọng mình. Hơn hết, lãnh đạo phải biết tôn trọng ý chí nguyện vọng nhân dân, đồng lòng chung sức giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Nguồn: FB Thích Thanh Thắng.
Friday, July 13, 2012
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Giới thiệu
Chương trình lãnh đạo quản lý cao cấp Việt Nam (VELP) là đồng sáng kiến của Chính phủ Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc và Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard nhằm tạo ra một diễn đàn cho các nhà hoạch định chính sách cao cấp và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam tham gia đối thoại dựa trên những nghiên cứu thực tiễn về các thách thức chính sách đối với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. VELP 2012 sẽ được tổ chức vào ngày 13-17/2/2012 tại Trường Harvard Kennedy. Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng với khoảng 20 nhà hoạch định chính sách cao cấp của Việt Nam sẽ tham gia Chương trình.
http://www.fetp.edu.vn/vn/bao-cao-chinh-sach/doi-thoai-chinh-sach/
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120710_harvard_vn_warnings.shtml?print=1
Chương trình lãnh đạo quản lý cao cấp Việt Nam (VELP) là đồng sáng kiến của Chính phủ Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc và Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard nhằm tạo ra một diễn đàn cho các nhà hoạch định chính sách cao cấp và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam tham gia đối thoại dựa trên những nghiên cứu thực tiễn về các thách thức chính sách đối với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. VELP 2012 sẽ được tổ chức vào ngày 13-17/2/2012 tại Trường Harvard Kennedy. Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng với khoảng 20 nhà hoạch định chính sách cao cấp của Việt Nam sẽ tham gia Chương trình.
http://www.fetp.edu.vn/vn/bao-cao-chinh-sach/doi-thoai-chinh-sach/
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120710_harvard_vn_warnings.shtml?print=1
Thủ tướng phớt lờ cảnh báo Harvard?
[
Trí Thức, Tư Bản, Yêu Nước cần nghiên cứu:
Chương trình này được bà Clinton nhắc nhở trong chuyến thăm của bà ta vừa qua.
Trang này có các tài liệu nghiên cứu về kinh tế VN.
http://www.fetp.edu.vn/vn/bao-cao-chinh-sach/doi-thoai-chinh-sach/
Liên hệ với bản tin này:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120710_harvard_vn_warnings.shtml?print=1
]
Các lời cảnh báo của nhóm nghiên cứu Harvard đã bị phớt lờ?
Cuốn 'cẩm nang' cho chiến lược phát triển Việt Nam kèm cảnh báo về hậu quả của đường lối hiện tại của Việt Nam mà các giáo sư Havard trao tận tay Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đến nay vẫn bị bỏ qua và không được công bố trước công chúng.
Hai năm sau khi nhậm chức, vào năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tìm đến Trường Kennedy thuộc Đại Học Harvard để tham vấn về một chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn 2011- 2020 qua “Chương Trình Châu Á” của Đại học này.
Tên gọi của tập tài liệu: “Lựa chọn thành công”, phần nào nói lên niềm tin của những giáo sư tham gia soạn thảo, rằng sự phát triển của Việt Nam hoàn toàn nằm trong những sự lựa chọn trong tầm tay của Chính phủ.
Cuộc gặp gỡ được báo chí trong nước ca ngợi là cởi mở, thẳng thắn và mang lại nhiều hi vọng phát triển cho Việt Nam.
Tuy nhiên cho đến ngày hôm nay, trước thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng những chiến lược cùng các lời cảnh báo mà nhóm nghiên cứu gồm các vị David Dapice, Dwight Perkins, Nguyễn Xuân Thành, Vũ Thành Tự Anh, Huỳnh Thế Du, Jonathan R. Pincus, Anthony Saich, Benjamin H. Wilkinson đưa ra đã bị phớt lờ.
Các nhóm đặc quyền
Bốn năm trước, nhóm giáo sư Harvard đã cảnh báo trước hậu quả từ sự trục lợi của các nhóm đặc quyền có ảnh hưởng chính trị lớn đang biến của công thành của riêng khiến chất lượng đầu tư công vào các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) không hiệu quả, làm mất đi nguồn lực vươn lên của Việt Nam trong lúc nền kinh tế lẫn người dân vẫn phải chịu gánh nặng kinh phí.
“Sự ưu ái của Nhà Nước đối với các công ty dựa vào các mối quan hệ chính trị hơn là kết quả thành công trong kinh doanh”.
“Các doanh nghiệp này vẫn được hỗ trợ vốn dù thua lỗ liên tiếp và chậm chạp trong việc nâng cao chất lượng kinh doanh vì tầm nhìn hẹp và không phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh.”
“Nếu như không có hệ thống kiểm soát đủ mạnh và khả năng phân tán rủi ro hiệu quả thì sẽ dẫn đến những khoản vay và đầu tư quá mức của các tập đoàn này,” theo lời trích dẫn tập tài liệu.
Bốn năm sau, Việt Nam chìm ngập trong các vụ tai tiếng từ sự đổ bể của các doanh nghiệp nhà nước với thiệt hại lên đến hàng trăm ngàn tỉ, gấp nhiều lần gói hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ trong năm 2012.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung – Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Ương nhận xét về doanh nghiệp nhà nước là “Lời ăn, lỗ cũng ăn và dân chịu.”
“Các nhóm đặc quyền này sẽ tiếp tục ngăn cản Việt Nam trong công cuộc cải cách, ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh và hạn chế kết quả tăng trưởng của Việt Nam,” nhóm nghiên cứu Harvard viết.
Quản lí yếu kém
Sự sụp đổ của Vinashin và Vinalines là hoàn toàn được báo trước
“Hệ thống quản lí yếu kém đã luôn là nguyên nhân dẫn đến các nguồn đầu tư được sử dụng không đúng lúc, đúng nơi.”
“Lạm phát là kết quả từ những chính sách sai lầm của chính phủ, chủ yếu xuất phát từ yếu kém trong điều hành kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư công kém hiệu quả.” – Trích dẫn tập tài liệu.
Với quyền lực tập trung chủ yếu vào các nhóm đặc quyền nói trên, tập tài liệu đã cảnh báo Nhà Nước sẽ trở nên “quá tải” trong vai trò quản lí của mình.
Sự quá tải này tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhà nước thả sức phớt lờ chủ trương của Nhà Nước yêu cầu họ tập trung vào những ngành chiến lược và thay vào đó, mở rộng hoạt động kinh doanh sang nhiều lĩnh vực, đồng thời tạo ra các công ty độc quyền trong nước để ngăn chặn cạnh tranh từ công ty nước ngoài.
Quả thực, vụ tai tiếng Vinalines và Vinashin và mức lạm phát lên đến 22% năm ngoái được giới quan sát cho là sự cao trào của trạng thái quá tải và yếu kém trong công tác quản lí.
“Quản lí yếu kém đồng thời cũng giúp người giàu tránh không phải trả những khoản thuế ... Khi nguồn thu quan trọng của ngân sách bị xói mòn thì nhà nước sẽ không đủ tiền tài trợ cho chi tiêu công”
“Sự tự do hóa tài chính cũng xảy ra quá sớm trong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa rõ ràng. Điều này tạo cơ hội cho hiện tượng đầu cơ và tạo các bong bóng tài sản.” – Nhóm giáo sư Havard cảnh báo.
Trên thực tế, sự vỡ bong bóng của thị trường chứng khoán Việt Nam đóng góp bởi các giao dịch nội gián và hiện tượng đầu cơ đã chứng minh những cảnh báo này là đúng.
Nghị Quyết số 11 được Chính Phủ đưa ra nhằm “chữa cháy” dường như đã quá muộn màng, khi các báo cáo năm 2012 cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với khối Bấm nợ xấu khổng lồ trong bối cảnh doanh nghiệp thay nhau phá sản và hiểm họa tiềm tàng từ những món nợ ngoài tầm kiểm soát từ các doanh nghiệp nhà nước.
Khủng hoảng giáo dục
Nhóm giáo sư Harvard viết: ”Các quốc gia cạnh tranh trên cơ sở lao động rẻ không thể vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Các quốc gia này phải chật vật để có được một tỉ lệ lợi nhuận mỏng manh trong khi thị trường thế giới ngày càng trở nên tinh vi, thâm dụng vốn và công nghệ hơn.”
Thật vậy, trong suốt những năm gần đây, giới quan sát đang cho rằng lao động giá rẻ hiện tại đang là nguyên nhân khiến Việt Nam phải đối mặt với “bẫy thu nhập trung bình”, khi nền kinh tế bị kìm hãm bởi mức thu nhập thấp của người dân.
Tuy nhiên chất lượng giáo dục đứng vào bậc thấp nhất so với các nước đang phát triển đồng khu vực hiện sẽ không đủ giúp Việt Nam sản sinh ra những lao động chất lượng cao hơn để thay đổi điều ấy.
“Số lượng, chất lượng giảng viên hết sức hạn chế và hơn phân nửa sinh viên ra trường tại Việt Nam không được làm đúng ngành đào tạo."
“Một điều đáng ngạc nhiên hơn, đó là tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP của Việt Nam là khá cao so với các nước trong khu vực. Vậy tiền đi đâu ? Phải chăng đã bị “nuốt chửng” bởi cơ chế hiện nay ?”
“Dưới hệ thống quản trị hiện tại, các trường đã không có đủ quyền tự chủ để chuyên môn hóa sâu, cạnh tranh trên cơ sở chất lượng phù hợp như cầu thị trường”
“Với một hệ thống quản trị như vậy, đổ thêm tiền vào chỉ là giải pháp tình thế, mà không giải quyết được những vấn đề cơ bản nhất của giáo dục Việt Nam” – Trích dẫn tập tài liệu.
Thiếu công bằng
Tập tài liệu đã chỉ ra thất bại của Chính phủ Việt Nam trong việc duy trì một xã hội công bằng.
Nhóm giáo sư Havard cho rằng, mức độ tiếp cận với nền giáo dục của người giàu nghèo vẫn còn cách rất xa nhau, và sự thất bại của ngành giáo dục không những kìm hãm sự phát triển của quốc gia mà còn duy trì sự bất công bằng trong xã hội.
Tập tài liệu cũng đã nhắm đến những bất công trong vấn đề đất đai.
“Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi đất từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị đang làm một số người trong đó có các quan chức giàu lên một cách nhanh chóng, trong khi khiến nhiều nông dân trở nên thực sự vô sản.”
Nhóm giáo sư này cũng đã so sánh vấn đề tái tổ chức đất nông nghiệp giữa Việt Nam với hai nước phát triển bậc nhất trong khu vực là Hàn Quốc và Đài Loan:
“Trong quá trình tổ chức lại đất nông nghiệp ở hai nước này, nông dân có thể bán lại đất của mình khi họ muốn với giá công bằng chứ không bị cưỡng bức phải tái định cư và nhận tiền đền bù thấp hơn giá trị thực”
Hai vụ bạo động tại Văn Giang và Tiên Lãng gần tại Việt Nam đã chứng minh sự phớt lờ của chính phủ Việt Nam trước những lời cảnh báo này, đồng thời cho thấy thực trạng bất công rõ rệt có xu hướng tăng cao giữa người nông dân và người giàu trong đó có các nhóm đặc quyền.
Cải cách cần thiết
Giới quan sát nói chọn thành công hay không là hoàn toàn tùy vào các nhà lãnh đạo Việt Nam
Các giáo sư Harvard đã chỉ ra sáu lĩnh vực chính sách mà Việt Nam cần cải cách, dựa theo sự thành công của các nước Đông Á:
Giáo dục: Cần công khai các ngân sách nhà nước dành cho giáo dục để tránh lãng phí và kém hiệu quả. Tiến độ thực hiện cải cách giáo dục đại học phải được thúc đẩy nhằm tận dụng lợi ích của đầu tư nước ngoài.
Cơ sở hạ tầng: Cần yêu cầu EVN chấm dứt ngay hoạt động đầu cơ, không nằm trong ngành kinh doanh chính nhằm tập trung vốn và nhân lực vào việc cung cấp năng lượng.
Hội đồng thẩm định đầu tư độc lập cần được đưa ra nhằm tránh các hạng mục đầu tư kém hiệu quả bằng cách sử dụng các ý kiến khách quan.
Minh bạch hóa các qui định về đất đai cần được tiến hành để đảm bảo một thị trường bất động sản công bằng và có tính cạnh tranh.
Các thành phố cần được đầu tư có hiệu quả để phục vụ cho mục đích dân sinh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Phân bổ nguồn lực giữa khu vực nhà nước và dân doanh dựa vào hiệu quả trong khả năng sử dụng, đồng thời kết quả kiểm toán của tất cả các công ty phải được thực hiện bởi những cơ quan kiểm toán độc lập.
Hệ thống tài chính: Giảm lạm phát bằng cách nâng cao chất lượng quản lí vĩ mô và tăng cường hiệu quả đầu tư công.
Biến ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thành một ngân hàng độc lập về mặt tài chính, nhân sự, công cụ và mục tiêu.
Hiệu lực của Nhà Nước: Loại bỏ những chính sách hoang đường không có khả năng thực hiện và hệ thống tuyển dụng nhân sự dựa vào thâm niên, lòng trung thành và xuất thân hiện nay để tuyển dụng người tài.
Khuyến khích tính phê phán trong nội bộ chính phủ và sự giám sát từ bên ngoài qua báo chí.
Theo đuổi định hướng cải cách một cách quyết liệt, nhằm tránh những sai lầm của Đông Nam Á, tận dụng cơ hội hiên tại và đáp ứng kỳ vọng của nhân dân về sự phát triển đất nước.
Công bằng: Cải thiện chất lượng giáo dục, y tế, khả năng sở hữu nhà cho người dân thành thị để tạo một xã hội công bằng thực sự.
Trợ cấp cho hoạt động đào tạo nghề để giúp người dân đứng vững trước các biến động thị trường.
Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn để tăng chất lượng sinh sống của đại bộ phận người dân Việt Nam cũng nhu tăng năng suất và giá trị cho sản phẩm nông nghiệp.
Trí Thức, Tư Bản, Yêu Nước cần nghiên cứu:
Chương trình này được bà Clinton nhắc nhở trong chuyến thăm của bà ta vừa qua.
Trang này có các tài liệu nghiên cứu về kinh tế VN.
http://www.fetp.edu.vn/vn/bao-cao-chinh-sach/doi-thoai-chinh-sach/
Liên hệ với bản tin này:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120710_harvard_vn_warnings.shtml?print=1
]
Các lời cảnh báo của nhóm nghiên cứu Harvard đã bị phớt lờ?
Cuốn 'cẩm nang' cho chiến lược phát triển Việt Nam kèm cảnh báo về hậu quả của đường lối hiện tại của Việt Nam mà các giáo sư Havard trao tận tay Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đến nay vẫn bị bỏ qua và không được công bố trước công chúng.
Hai năm sau khi nhậm chức, vào năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tìm đến Trường Kennedy thuộc Đại Học Harvard để tham vấn về một chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn 2011- 2020 qua “Chương Trình Châu Á” của Đại học này.
Tên gọi của tập tài liệu: “Lựa chọn thành công”, phần nào nói lên niềm tin của những giáo sư tham gia soạn thảo, rằng sự phát triển của Việt Nam hoàn toàn nằm trong những sự lựa chọn trong tầm tay của Chính phủ.
Cuộc gặp gỡ được báo chí trong nước ca ngợi là cởi mở, thẳng thắn và mang lại nhiều hi vọng phát triển cho Việt Nam.
Tuy nhiên cho đến ngày hôm nay, trước thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng những chiến lược cùng các lời cảnh báo mà nhóm nghiên cứu gồm các vị David Dapice, Dwight Perkins, Nguyễn Xuân Thành, Vũ Thành Tự Anh, Huỳnh Thế Du, Jonathan R. Pincus, Anthony Saich, Benjamin H. Wilkinson đưa ra đã bị phớt lờ.
Các nhóm đặc quyền
Bốn năm trước, nhóm giáo sư Harvard đã cảnh báo trước hậu quả từ sự trục lợi của các nhóm đặc quyền có ảnh hưởng chính trị lớn đang biến của công thành của riêng khiến chất lượng đầu tư công vào các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) không hiệu quả, làm mất đi nguồn lực vươn lên của Việt Nam trong lúc nền kinh tế lẫn người dân vẫn phải chịu gánh nặng kinh phí.
“Sự ưu ái của Nhà Nước đối với các công ty dựa vào các mối quan hệ chính trị hơn là kết quả thành công trong kinh doanh”.
“Các doanh nghiệp này vẫn được hỗ trợ vốn dù thua lỗ liên tiếp và chậm chạp trong việc nâng cao chất lượng kinh doanh vì tầm nhìn hẹp và không phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh.”
“Nếu như không có hệ thống kiểm soát đủ mạnh và khả năng phân tán rủi ro hiệu quả thì sẽ dẫn đến những khoản vay và đầu tư quá mức của các tập đoàn này,” theo lời trích dẫn tập tài liệu.
Bốn năm sau, Việt Nam chìm ngập trong các vụ tai tiếng từ sự đổ bể của các doanh nghiệp nhà nước với thiệt hại lên đến hàng trăm ngàn tỉ, gấp nhiều lần gói hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ trong năm 2012.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung – Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Ương nhận xét về doanh nghiệp nhà nước là “Lời ăn, lỗ cũng ăn và dân chịu.”
“Các nhóm đặc quyền này sẽ tiếp tục ngăn cản Việt Nam trong công cuộc cải cách, ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh và hạn chế kết quả tăng trưởng của Việt Nam,” nhóm nghiên cứu Harvard viết.
Quản lí yếu kém
Sự sụp đổ của Vinashin và Vinalines là hoàn toàn được báo trước
“Hệ thống quản lí yếu kém đã luôn là nguyên nhân dẫn đến các nguồn đầu tư được sử dụng không đúng lúc, đúng nơi.”
“Lạm phát là kết quả từ những chính sách sai lầm của chính phủ, chủ yếu xuất phát từ yếu kém trong điều hành kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư công kém hiệu quả.” – Trích dẫn tập tài liệu.
Với quyền lực tập trung chủ yếu vào các nhóm đặc quyền nói trên, tập tài liệu đã cảnh báo Nhà Nước sẽ trở nên “quá tải” trong vai trò quản lí của mình.
Sự quá tải này tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhà nước thả sức phớt lờ chủ trương của Nhà Nước yêu cầu họ tập trung vào những ngành chiến lược và thay vào đó, mở rộng hoạt động kinh doanh sang nhiều lĩnh vực, đồng thời tạo ra các công ty độc quyền trong nước để ngăn chặn cạnh tranh từ công ty nước ngoài.
Quả thực, vụ tai tiếng Vinalines và Vinashin và mức lạm phát lên đến 22% năm ngoái được giới quan sát cho là sự cao trào của trạng thái quá tải và yếu kém trong công tác quản lí.
“Quản lí yếu kém đồng thời cũng giúp người giàu tránh không phải trả những khoản thuế ... Khi nguồn thu quan trọng của ngân sách bị xói mòn thì nhà nước sẽ không đủ tiền tài trợ cho chi tiêu công”
“Sự tự do hóa tài chính cũng xảy ra quá sớm trong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa rõ ràng. Điều này tạo cơ hội cho hiện tượng đầu cơ và tạo các bong bóng tài sản.” – Nhóm giáo sư Havard cảnh báo.
Trên thực tế, sự vỡ bong bóng của thị trường chứng khoán Việt Nam đóng góp bởi các giao dịch nội gián và hiện tượng đầu cơ đã chứng minh những cảnh báo này là đúng.
Nghị Quyết số 11 được Chính Phủ đưa ra nhằm “chữa cháy” dường như đã quá muộn màng, khi các báo cáo năm 2012 cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với khối Bấm nợ xấu khổng lồ trong bối cảnh doanh nghiệp thay nhau phá sản và hiểm họa tiềm tàng từ những món nợ ngoài tầm kiểm soát từ các doanh nghiệp nhà nước.
Khủng hoảng giáo dục
Nhóm giáo sư Harvard viết: ”Các quốc gia cạnh tranh trên cơ sở lao động rẻ không thể vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Các quốc gia này phải chật vật để có được một tỉ lệ lợi nhuận mỏng manh trong khi thị trường thế giới ngày càng trở nên tinh vi, thâm dụng vốn và công nghệ hơn.”
Thật vậy, trong suốt những năm gần đây, giới quan sát đang cho rằng lao động giá rẻ hiện tại đang là nguyên nhân khiến Việt Nam phải đối mặt với “bẫy thu nhập trung bình”, khi nền kinh tế bị kìm hãm bởi mức thu nhập thấp của người dân.
Tuy nhiên chất lượng giáo dục đứng vào bậc thấp nhất so với các nước đang phát triển đồng khu vực hiện sẽ không đủ giúp Việt Nam sản sinh ra những lao động chất lượng cao hơn để thay đổi điều ấy.
“Số lượng, chất lượng giảng viên hết sức hạn chế và hơn phân nửa sinh viên ra trường tại Việt Nam không được làm đúng ngành đào tạo."
“Một điều đáng ngạc nhiên hơn, đó là tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP của Việt Nam là khá cao so với các nước trong khu vực. Vậy tiền đi đâu ? Phải chăng đã bị “nuốt chửng” bởi cơ chế hiện nay ?”
“Dưới hệ thống quản trị hiện tại, các trường đã không có đủ quyền tự chủ để chuyên môn hóa sâu, cạnh tranh trên cơ sở chất lượng phù hợp như cầu thị trường”
“Với một hệ thống quản trị như vậy, đổ thêm tiền vào chỉ là giải pháp tình thế, mà không giải quyết được những vấn đề cơ bản nhất của giáo dục Việt Nam” – Trích dẫn tập tài liệu.
Thiếu công bằng
Tập tài liệu đã chỉ ra thất bại của Chính phủ Việt Nam trong việc duy trì một xã hội công bằng.
Nhóm giáo sư Havard cho rằng, mức độ tiếp cận với nền giáo dục của người giàu nghèo vẫn còn cách rất xa nhau, và sự thất bại của ngành giáo dục không những kìm hãm sự phát triển của quốc gia mà còn duy trì sự bất công bằng trong xã hội.
Tập tài liệu cũng đã nhắm đến những bất công trong vấn đề đất đai.
“Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi đất từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị đang làm một số người trong đó có các quan chức giàu lên một cách nhanh chóng, trong khi khiến nhiều nông dân trở nên thực sự vô sản.”
Nhóm giáo sư này cũng đã so sánh vấn đề tái tổ chức đất nông nghiệp giữa Việt Nam với hai nước phát triển bậc nhất trong khu vực là Hàn Quốc và Đài Loan:
“Trong quá trình tổ chức lại đất nông nghiệp ở hai nước này, nông dân có thể bán lại đất của mình khi họ muốn với giá công bằng chứ không bị cưỡng bức phải tái định cư và nhận tiền đền bù thấp hơn giá trị thực”
Hai vụ bạo động tại Văn Giang và Tiên Lãng gần tại Việt Nam đã chứng minh sự phớt lờ của chính phủ Việt Nam trước những lời cảnh báo này, đồng thời cho thấy thực trạng bất công rõ rệt có xu hướng tăng cao giữa người nông dân và người giàu trong đó có các nhóm đặc quyền.
Cải cách cần thiết
Giới quan sát nói chọn thành công hay không là hoàn toàn tùy vào các nhà lãnh đạo Việt Nam
Các giáo sư Harvard đã chỉ ra sáu lĩnh vực chính sách mà Việt Nam cần cải cách, dựa theo sự thành công của các nước Đông Á:
Giáo dục: Cần công khai các ngân sách nhà nước dành cho giáo dục để tránh lãng phí và kém hiệu quả. Tiến độ thực hiện cải cách giáo dục đại học phải được thúc đẩy nhằm tận dụng lợi ích của đầu tư nước ngoài.
Cơ sở hạ tầng: Cần yêu cầu EVN chấm dứt ngay hoạt động đầu cơ, không nằm trong ngành kinh doanh chính nhằm tập trung vốn và nhân lực vào việc cung cấp năng lượng.
Hội đồng thẩm định đầu tư độc lập cần được đưa ra nhằm tránh các hạng mục đầu tư kém hiệu quả bằng cách sử dụng các ý kiến khách quan.
Minh bạch hóa các qui định về đất đai cần được tiến hành để đảm bảo một thị trường bất động sản công bằng và có tính cạnh tranh.
Các thành phố cần được đầu tư có hiệu quả để phục vụ cho mục đích dân sinh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Phân bổ nguồn lực giữa khu vực nhà nước và dân doanh dựa vào hiệu quả trong khả năng sử dụng, đồng thời kết quả kiểm toán của tất cả các công ty phải được thực hiện bởi những cơ quan kiểm toán độc lập.
Hệ thống tài chính: Giảm lạm phát bằng cách nâng cao chất lượng quản lí vĩ mô và tăng cường hiệu quả đầu tư công.
Biến ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thành một ngân hàng độc lập về mặt tài chính, nhân sự, công cụ và mục tiêu.
Hiệu lực của Nhà Nước: Loại bỏ những chính sách hoang đường không có khả năng thực hiện và hệ thống tuyển dụng nhân sự dựa vào thâm niên, lòng trung thành và xuất thân hiện nay để tuyển dụng người tài.
Khuyến khích tính phê phán trong nội bộ chính phủ và sự giám sát từ bên ngoài qua báo chí.
Theo đuổi định hướng cải cách một cách quyết liệt, nhằm tránh những sai lầm của Đông Nam Á, tận dụng cơ hội hiên tại và đáp ứng kỳ vọng của nhân dân về sự phát triển đất nước.
Công bằng: Cải thiện chất lượng giáo dục, y tế, khả năng sở hữu nhà cho người dân thành thị để tạo một xã hội công bằng thực sự.
Trợ cấp cho hoạt động đào tạo nghề để giúp người dân đứng vững trước các biến động thị trường.
Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn để tăng chất lượng sinh sống của đại bộ phận người dân Việt Nam cũng nhu tăng năng suất và giá trị cho sản phẩm nông nghiệp.
Wednesday, July 11, 2012
Những Điểm Cần Dị Biệt
Ngoại Giao để Phản Đối TQ:
1) VN-TQ không là ngoại giao Em-Anh, Bé-Lớn, Đồng chí. Chỉ có ngoại giao Trung Lập ngang hàng Tao-Mày. Không cần thái độ khiêm nhường vô luật.
2) VN không kiến nghị "Phản đối" khi TQ xâm phạm chủ quyền VN. Mà phải "Triệu tập Đại Sứ TQ tại VN" đến Phòng ngoại giao QH VN để hạch đối.
-------------------
VN cần giải quyết vấn đề Nhân quyền, và tự do báo chí.
Bằng cách:
1) khuyến khích các nhà báo tự do phải trung thực, không tạo tin giả trá.
2) Khuyến khích các nhà báo tự do hợp tác chủ trương tôn trọng diễn biến tuyên truyền ổn định chính trị, không cổ vũ ngôn ngữ bạo động.
-------------------
Đảng CSVN Không Sợ Diễn Biến Hoà Bình vì:
1) Chủ trương Ổn định chính trị để Phát Triển Kinh Tế là điều thế giới muốn.
2) Tôn trọng NQ, thực hiện Đạo đức Pháp luật trong công vụ XH để ổn định Chính trị hơn là bố trí LLượng đàn áp.
Bọn Bắc Phương vào lãnh hải ta thì cướp Cá, cướp Biển. Mỹ vào lãnh hải ta cứu dân, cứu nước. Thế lực thù địch là ai?
Hôm rồi có anh Lãnh đạo nào đó nói làm gì thì VN cũng sống cả nghìn năm tới với Bắc Phương, cho nên không ủng hộ Nhân dân yêu nước chống Tàu.
Vậy thì nghìn năm tới Đất nước ta có sống chung với Mỹ không? Hay là cả dân tộc sẽ sống trên Đất Mỹ?
--------------------
VN không Sợ TQ Tấn Công vì:
1)Thế Giới đang bao vây TQ, TG không để yên, TG trừng phạt kinh tế.
2)TQ trừng phạt KT VN hay thủ đoạn QSự, VN tăng VTrợ của Mỹ, Mỹ xóa cấm vận bán Vũ khí cho VN. Điều TQ lo nhất.
3) Nội bộ TQ rất rối, TQ không thể dùng Vũ lực trên Biển Đông.
Hưng Việt Đạo
Thích Giác Hạnh
1) VN-TQ không là ngoại giao Em-Anh, Bé-Lớn, Đồng chí. Chỉ có ngoại giao Trung Lập ngang hàng Tao-Mày. Không cần thái độ khiêm nhường vô luật.
2) VN không kiến nghị "Phản đối" khi TQ xâm phạm chủ quyền VN. Mà phải "Triệu tập Đại Sứ TQ tại VN" đến Phòng ngoại giao QH VN để hạch đối.
-------------------
VN cần giải quyết vấn đề Nhân quyền, và tự do báo chí.
Bằng cách:
1) khuyến khích các nhà báo tự do phải trung thực, không tạo tin giả trá.
2) Khuyến khích các nhà báo tự do hợp tác chủ trương tôn trọng diễn biến tuyên truyền ổn định chính trị, không cổ vũ ngôn ngữ bạo động.
-------------------
Đảng CSVN Không Sợ Diễn Biến Hoà Bình vì:
1) Chủ trương Ổn định chính trị để Phát Triển Kinh Tế là điều thế giới muốn.
2) Tôn trọng NQ, thực hiện Đạo đức Pháp luật trong công vụ XH để ổn định Chính trị hơn là bố trí LLượng đàn áp.
Bọn Bắc Phương vào lãnh hải ta thì cướp Cá, cướp Biển. Mỹ vào lãnh hải ta cứu dân, cứu nước. Thế lực thù địch là ai?
Hôm rồi có anh Lãnh đạo nào đó nói làm gì thì VN cũng sống cả nghìn năm tới với Bắc Phương, cho nên không ủng hộ Nhân dân yêu nước chống Tàu.
Vậy thì nghìn năm tới Đất nước ta có sống chung với Mỹ không? Hay là cả dân tộc sẽ sống trên Đất Mỹ?
--------------------
VN không Sợ TQ Tấn Công vì:
1)Thế Giới đang bao vây TQ, TG không để yên, TG trừng phạt kinh tế.
2)TQ trừng phạt KT VN hay thủ đoạn QSự, VN tăng VTrợ của Mỹ, Mỹ xóa cấm vận bán Vũ khí cho VN. Điều TQ lo nhất.
3) Nội bộ TQ rất rối, TQ không thể dùng Vũ lực trên Biển Đông.
Hưng Việt Đạo
Thích Giác Hạnh
Subscribe to:
Posts (Atom)