Friday, June 22, 2012

Di Chúc Vua Trần Nhân Tông (1258-1308)

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo.

Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo.
Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu.

Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải.
Các việc trên ,
khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn.
Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước.
Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.
Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.
Họ gậm nhấm đất đai của ta,
lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.

Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
"Một tấc đất của Tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".

Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu."

Thursday, June 21, 2012

Văn Hiến Việt Nam

[15/17] Những tư tưởng nền tảng của Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam Tương lai
Dương Thái Sơn, 2001

15. Văn Hiến Việt Nam.
Hiến pháp mới của nước Việt Nam dù có thu thập được tinh hoa từ kinh nghiệm của nhiều nước khác trên thế giới, vẫn phải phản ảnh những nét đặc thù của văn hiến Việt Nam. Có như vậy nó mới mang được tâm hồn Việt Nam cùng với tâm tình Việt Nam, và được người Việt Nam trìu mến đón nhận là của mình và cho đất nước mình.
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, nước Việt Nam đã được khai sinh và tồn tại đến ngày nay là nhờ có một nền văn hiến đặc thù Việt tính xây dựng trên 3 đơn vị nền tảng là : con người, gia đình và tổ quốc. Cả 3 đơn vị này đều là nền móng vững chắc cho xã hội Việt Nam từ ngàn xưa, mặc dù có những lúc đất nước bị đô hộ và ngoại bang muốn tiêu diệt các nền tảng đó nhưng đã không thành. Nhờ văn hiến vững bền đó mà dân tộc Việt Nam đã có nền tảng để quật khởi, khôi phục được nền độc lập và bảo vệ được bờ cõi mặc dù phải hy sinh rất nhiều xương máu.
Con người trong văn hóa Việt Nam là con người tâm trí thể toàn diện hành động theo nhân nghĩa (hay từ bi, bác ái) như là nền tảng văn hóa và đạo đức bản thân. Gia đình trong văn hóa Việt Nam được xem là đơn vị nền tảng của xã hội. Gia đình nào cũng chú trọng bảo vệ gia phong, xem đó là danh dự của chính mình và giòng họ mình. Gia phong trở thành một khuôn khổ đạo đức cho con người khi trở thành một phần tử của gia đình. Gia phong không phải là pháp luật, nhưng là một thứ nội quy bất thành văn của gia đình mà gia đình nào cũng có và hãnh diện về nó. Gia phong giữa các gia đình thực ra không khác nhau mấy vì nó là phản ảnh của ý thức hệ xã hội đương thời và trở thành văn hóa của gia đình.
Đối với Tổ quốc, thì văn hóa Việt Nam đã phản ảnh tinh thần quốc gia của người Việt rất rõ rệt. Tinh thần quốc gia này đã trở thành một ý thức hệ quốc gia, nơi đó lòng ái quốc luôn luôn được đề cao dù là dưới thời quân chủ ngày xưa hay thời đại dân chủ ngày nay. Chúng ta cần nhìn lại ý thức hệ quốc gia của người Việt để đưa nó vào tân Hiến pháp, vấn đề này rất quan trọng vì nó là nồng cốt của nền văn hiến quốc gia.

Kinh tế thị trường: Lao Động và Tư Bản.

[13/17] Những tư tưởng nền tảng của Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam Tương lai
Dương Thái Sơn, 2001

13. Kinh tế thị trường: Lao Động và Tư Bản.
Đã theo kinh tế thị trường thì không thể hô hào đấu tranh giai cấp và cổ võ hận thù giai cấp. Đây là thế bí đầy thất bại của chủ nghĩa cộng sản hiện nay.
Trên thực tế, sự cổ võ đấu tranh giai cấp là một sai lầm to lớn nhứt mà Đảng Cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, vì nó là đầu mối đưa đến tương khắc Quốc Cộng với không biết bao nhiêu hệ lụy cho dân tộc và đất nước.
Về mặt lý luận, thuyết đấu tranh giai cấp đã sai lầm ngay tại khởi điểm. Sau khởi điểm đó thì các sự lý luận của Marx có vẻ hợp lý trong lý luận biện chứng pháp của ông. Karl Marx đã chọn tác động tương khắc để giải quyết vấn đề Tư Bản và Lao Động, mà ông không biết đến tác động tương sinh của chúng. Vì sai lầm ngay từ khởi điểm nên từ đó ''sai một ly đi vạn dậm'', ông viết nên thuyết đấu tranh giai cấp rồi hệ luận là chế độ chuyên chính vô sản với bạo lực cách mạng, và kết quả cuối cùng mà ông tưởng tượng là giai cấp vô sản được giải phóng và thiên đường cộng sản được thành lập trên thế gian này.
Nếu chiếu theo qui luật tương sinh và tương khắc để biến hóa của thế giới bất đồng, người khách quan sẽ nhìn thấy tất cả lý thuyết trường thiên đó đều nằm trên tiến trình theo chiều hạ của sự tương khắc giữa các thế lực bất đồng, trong đó tác động hủy diệt của các thế lực bất đồng cứ tiếp tục xảy ra triền miên và kết quả dẫn đến Xã hội âm phủ thay vì dẫn đến Thiên đường cộng sản như Marx mơ ước trong lý luận của ông.
Sự khủng hoảng của người cộng sản hôm nay chính là sự khủng hoảng của những người đã đạt đến bến bờ âm phủ. Những nước cộng sản tiền phong là Liên Xô và các quốc gia Đông Âu đã nhìn thấy bến bờ âm phủ trước nhứt và họ đã mạnh dạn thực hiện cuộc cách mạng Dân chủ chính trị và Tự do kinh tế, trong khi bốn nước cộng sản còn lại là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba thì còn đang lạng quạng bên bờ âm phủ. Ông Hà Sĩ Phu đã mô tả bến bờ âm phủ mà ông đã nhìn thấy như sau trong bài ''Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ'':
''Chúng ta có trong tay mình một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược, lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên. Vì thế mà không một qui luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát triển được tác dụng, thành ra cái tinh thua cái thô, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ. .. và con người phải đi giật lùi.''
Nhưng vì sự sai lầm nằm trong bản chất của lý thuyết nên khi bỏ qua sai lầm này thì lại có sai lầm khác. Sự sai lầm căn bản thuộc về bản chất là xã hội cộng sản luôn luôn nằm trên tiến trình tương khắc hủy diệt, nên kết quả thực tế là sức mạnh xã hội bị tiêu hao hủy diệt chứ không thể có phát triển thịnh vượng được, trong khi lý thuyết thì cứ bảo rằng càng đấu tranh càng thắng lợi thì xã hội càng mạnh! Nghịch lý giữa lý thuyết cộng sản và thực tế là chỗ đó! Càng đi xa thì càng đi đến Xã hội Âm phủ của phá sản và băng hoại, thay vì Thiên đường trong đó con người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu như Marx nói.
Tại các nước cộng sản, các lý thuyết gia cũng như người cộng sản ''hồ hỡi phấn khởi'' tin tưởng đấu tranh giai cấp sẽ đưa họ đến thiên đường cộng sản theo như lịch sử tiến hóa của xã hội mà Marx đã vẽ ra. Họ cứ tiếp tục đấu tranh và tiềm lực xã hội của họ mỗi ngày một tiêu tan dần vì tất cả hệ thống xã hội đều bị nằm trên tiến trình tương khắc đưa đến sự hủy diệt.
Trong khi đó tại các nước tư bản, giới tư bản đã không bị giẫy chết như Marx tiên đoán, mà ngược lại càng ngày càng thành công, đến độ ông Nguyễn Hộ với 78 tuổi đời , 57 tuổi đảng đã thống thiết nhìn nhận trong bài ''Quan điểm và Cuộc sống'':
''Thưa các ngài tư bản,
''Từ lâu, đi theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, chúng tôi đã tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm tiêu diệt chủ nghĩa tư bản của các ngài; và thật sự, chúng tôi - phe xã hội chủ nghĩa - đã tiêu diệt được chủ nghĩa tư bản của các ngài trên qui mô rộng lớn của thế giới trong một thời gian khá dài. Thế nhưng chúng tôi đã thất bại do không tuân thủ qui luật khách quan trong việc xây dựng một phương thức sản xuất mới nhưng rất yếu đuối, trì trệ, không đem lại một năng suất lao động cao, một sự phồn vinh và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, xã hội; và do đó, nó không có khả năng gì để thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thật sự hoàn thiện, có sức hấp dẫn, thu hút mạnh mẽ của các ngài, và nó đã sụp đổ. Vì vậy, giờ đây chúng tôi phải học tập các ngài, học tập chủ nghĩa tư bản, làm theo mô hình tư bản chủ nghĩa của các ngài, và tất nhiên phải từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê-nin - chủ nghĩa cộng sản - đã quá lỗi thời để tiến kịp theo các ngài trên con đường tiến hóa của lịch sử.'' (Báo Thời Luận ngày 30/6/94).
Tại sao tư bản không chết mà lại thành công lẫy lừng như thế? Vì Tư bản và Lao động không nằm trong tiến trình tác động tương khắc mà nằm trong tiến trình tác động tương sinh.
Các chế độ tư bản bóc lột hồi thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở các nước Tây phương đã được chánh quyền can thiệp để cải thiện, điều chỉnh hai thế lực bất đồng này từ vị trí tương khắc sang vị trí tương sinh. Khẩu hiệu ''Lao Tư hợp tác lưỡng lợi'' được nêu cao bởi cả giới chủ lẫn giới thợ là một chứng minh cho sự hiện hữu của tiến trình hợp tác tương sinh trong xã hội kỹ nghệ Tây phương. Đồng thời, những định chế để điều chỉnh sự tương khắc trong quan hệ sản xuất chủ thợ được thành hình với những Bộ Luật và Tòa án Lao động, quyền tự do nghiệp đoàn, quyền đình công, quyền bế xưởng, bảo hiểm lao động, bảo hiểm thất nghiệp,v.v . .. Xa hơn nữa, chánh quyền còn can thiệp bằng những phương tiện pháp định để tái phân lợi tức trong xã hội giữa người giàu và người nghèo, khiến cho hiện tượng đấu tranh giai cấp không hề xảy ra. Đây là những điều mà chúng ta phải học ở mô hình tư bản chủ nghĩa cải tiến ở hậu bán thế kỷ 20, mà ông Nguyễn Hộ đã nói, để điều chỉnh hai thế lực bất đồng từ vị trí tương khắc sang vị trí tương sinh.
Sức mạnh của xã hội không bị tiêu hao. Mọi tiềm lực của xã hội từ trí tuệ, lao động, tư bản . .. đều được gom vào diễn trình sản xuất, làm cho nền sản xuất quốc gia phong phú và đất nước chóng cường thịnh. Lịch sử tiến tới theo chiều thượng của quá trình tương sinh. Điều này, những người cộng sản như Marx, Lênine, Mao, Hồ, v.v. .. đều không nhìn thấy trong lịch sử tiến hóa theo lý luận của họ vì họ đã sai ngay từ khởi điểm.
Nói tóm lại, các thành phần bất đồng trong xã hội luôn luôn tác động với nhau theo qui luật tương sinh và tương khắc. Sự khôn ngoan của những người lãnh đạo nhân quần xã hội là biết tổ chức như thế nào để điều chỉnh các thế lực bất đồng từ vị trí tương khắc sang vị trí tương sinh, để tránh sự tiêu hao băng hoại do sự tương khắc, đồng thời bồi dưỡng tác động tương sinh để làm nẩy nở sinh lực và phát triển các tiềm lực của xã hội. Làm được như vậy thì xã hội sẽ tự động phát triển và hùng mạnh thực sự, không cần phải biện luận dong dài như những nhà lý thuyết cộng sản để ngụy biện cho những thực tế phủ phàng hậu quả của quá trình tương khắc.
Thế tương khắc của đấu tranh giai cấp đã là đầu mối của bao nhiêu thảm họa trong lịch sử đất nước hơn 50 năm qua. Trong những thảm họa đó có thảm họa lớn nhứt là tương khắc Quốc Cộng. Bởi vậy, Hiến pháp Quốc gia Lý tưởng phải giải quyết vấn đề Lao Động và Tư Bản theo chiều hướng hợp tác tương sinh để làm sinh trưởng các tiềm lực dân tộc, thay vì theo chiều hướng tương khắc hủy diệt của đấu tranh giai cấp.

Quyền lãnh đạo công luận - [Đệ Tứ Quyền]

Những tư tưởng nền tảng của Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam Tương Lai [14/17]
Dương Thái Sơn, 2001

14. Quyền lãnh đạo công luận.
Trong một quốc gia dân chủ tự do, sự lãnh đạo công luận không thực sự nằm trong tay cơ quan hành pháp, lập pháp hay tư pháp, mà nó nằm trong tay một nhóm tư nhân được gọi là các cơ quan truyền thông.
Quyền lãnh đạo công luận cũng còn được gọi là đệ tứ quyền trong sự lãnh đạo quốc gia bên cạnh 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lãnh đạo công luận tức là quyền thông tin và phê bình của các cơ quan truyền thông đủ mọi loại như báo chí, truyền thanh, truyền hình và ngày nay thêm liên mạng toàn cầu (internet). Quyền này không chánh thức ghi trong Hiến pháp nước nào cả, nhưng thực tế họ thực sự lãnh đạo công luận và trở thành một thế lực đáng kể không thua gì quyền lập pháp đối với quyền hành pháp, nhiều khi họ cũng có ảnh hưởng khuynh đảo chánh quyền. Họ là tiêu biểu cho tiếng nói nhân dân, nhưng thực sự họ không được nhân dân uỷ quyền, mà họ chỉ là một nhóm trí thức cầm bút, và họ phát biểu như là người dân phát biểu.
Trong các cuộc bầu cử ở các nước dân chủ, các cơ quan truyền thông đã đóng vai trò quan trọng trong sự thành bại của các ứng cử viên bất luận ở cấp bậc nào, do đó họ có một áp lực nặng nề đối với các ứng cử viên mọi loại. Nhóm tư nhân nắm quyền lãnh đạo công luận là những người biết hành xử một số quyền tự do công cộng được Hiến pháp thừa nhận như quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do xuất bản, tự do truyền thông. Quyền của họ rất lớn và ảnh hưởng của họ cũng rất lớn. Sự lạm quyền của họ có thể đưa đến những tai họa khôn lường, mà ngăn cấm họ hoặc kiểm soát họ chặt chẽ thì nền dân chủ không còn nữa !
Bởi vậy, trong Hiến pháp tương lai, quyền tự do báo chí và truyền thông phải được định chế hóa và qui định trách nhiệm nặng nề của những người được tự do hành xử quyền truyền thông, nhằm ngăn chận các sự lạm dụng để xuyên tạc, bôi bẩn và xâm phạm danh dự cá nhân, gây hoang mang trong công luận về những tin tức hay bình luận không đúng thật hoặc xâm phạm thuần phong mỹ tục hay công xúc tu sỉ. Sự qui định này cũng là nhằm bảo vệ cho người đọc hoặc người nghe vốn là ''những người tiêu thụ truyền thông'' không được ai bảo vệ, đặc biệt là đối với những người trẻ vị thành niên.

Tháo vòng nghiệp chướng

[17/17] Những tư tưởng nền tảng của Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam Tương lai

Dương Thái Sơn, 2001

Tháo vòng nghiệp chướng

Vấn đề của Việt Nam ngày nay là làm sao để đưa nhân dân ra khỏi thế tương khắc và đặt Đất nước trên tiến trình tương sinh, hầu kết hợp và phát triển tiềm lực của mọi dòng máu Việt ở trong nước, ở ngoài nước, ở miền Bắc, ở miền Nam, để chóng thực hiện thành công Phong Trào Kiến Thiết Quốc Gia, Phát Triển Dân Tộc, và Phát Triển Thịnh Vượng Chung Vùng Đông Nam Á, xây dựng Đất nước thành một Quốc Gia Lý Tưởng dưới chân trời mở rộng của thế kỷ 21. Đó là tư tưởng lớn, hoài bão lớn và là nhiệm vụ lớn của Thế hệ Việt Nam mới trên con đường lịch sử trước mặt.
Đối với thế hệ mới, tương lai đất nước không thể được xây dựng bằng lòng thù hận, tương lai đất nước cũng không thể được xây dựng bằng chế độ độc tài, áp bức, tù đày và đẫm máu anh em. Thế bế tắc của đất nước phải được khai thông bằng nền dân chủ pháp trị đa nguyên đa đảng, để mọi thành phần bất đồng cùng nhau thi triển tài năng để kiến thiết quốc gia, phát triển dân tộc, và phát triển thịnh vượng chung Vùng Đông Nam Á..
Không có dân chủ tự do thì không thể tranh thủ được nguồn nhân tài, chuyên viên khoa học kỹ thuật, các nhà tài chánh và doanh nghiệp Việt Nam ở hải ngoại. Không có dân chủ tự do thì không tạo được niềm tin của nhân dân cả trong nước và ngoài nước, cũng như niềm tin của các chánh quyền và các nhà doanh nghiệp quốc tế muốn đầu tư lâu dài trên đất nước Việt Nam. Đất nước sẽ không có đủ sức mạnh để phát triển, và nhất là sẽ không có đủ sức mạnh để bảo vệ các chủ quyền kinh tế trong tương lai, khi mà đất nước bị thao túng và xâu xé bởi các tiểu cường lân bang cũng như bởi các thế lực tư bản ngoại quốc. Nguy cơ này sẽ đến ở những thập niên đầu của thế kỷ 21 mà thế hệ trẻ sẽ phải gánh chịu, nếu nước Việt Nam không kịp thời dân chủ hóa. Một Hiến pháp dân chủ sẽ là nền tảng cần thiết của mọi xây dựng và phát triển cho con người và đất nước trong nếp sống pháp trị hòa bình và ổn định.
Bản Hiến pháp Quốc gia Lý tưởng là phản ảnh nguyện vọng dân chủ và Văn hiến của nhân dân Việt Nam, có năng lực cởi mở mọi tiềm lực của dân tộc trong niềm tin phấn khởi xây dựng và phát triển đất nước với lòng ái quốc nồng nàn nơi mỗi công dân Việt. Bản Hiến pháp này sẽ là nền tảng của nền dân chủ pháp trị, đồng thời cũng là nền tảng của nền văn hiến quốc gia và đạo đức xã hội.
Chân trời tốt đẹp đó có là xa vời đối với đất nước Việt Nam không? Thưa không, nếu mọi người Việt Nam ngày nay - người cộng sản lẫn người không cộng sản, người trong chánh quyền lẫn người ngoài chánh quyền - chấp nhận đại phản tỉnh để tháo vòng nghiệp chướng cho chính mình và cho dân tộc. Tháo vòng nghiệp chướng để thực hiện Dân tộc Hòa hợp và tạo đầy đủ cơ hội cho Đất nước vươn mình đi lên là nhiệm vụ trọng đại của mọi người Việt Nam yêu nước xả kỷ vì tiền đồ của xứ sở. Thế hệ Việt Nam mới phải đi lên và tiến tới trong nhiệm vụ lịch sử trọng đại đầy vinh quang đó.
Nước Việt Nam ngày nay giống như cậu bé làng Phù Đổng, không lẽ cứ làm cậu bé mãi sao? Xin hãy tháo vòng nghiệp chướng để vươn mình biến thành người cao lớn đầy đủ trí tuệ, đạo đức, oai dũng, bảo vệ cõi bờ và xây dựng lại quê hương !
Xin hãy mạnh dạn làm một bước khởi đầu cho sự nghiệp lớn của Đất nước! Trân trọng.
Dương Thái Sơn

Vấn đề Dân tộc hòa hợp.

[09/17] Những tư tưởng nền tảng của Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam Tương lai

Dương Thái Sơn, 2001

9. Vấn đề Dân tộc hòa hợp.
Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là bất khả phân phản ảnh ý chí chung của mọi người Việt Nam trên lập trường xây dựng Quốc gia Lý tưởng. Điều này không ngăn trở việc phân lãnh thổ thành nhiều tiểu bang tự trị và nằm chung dưới lá cờ của Liên bang, biểu tượng thống nhất và duy nhất của quốc gia. Mỗi tiểu bang có quyền phát triển theo sắc thái riêng của mình theo tinh thần dân chủ, và các thành phần thiểu số (về tư tưởng, về sắc dân, về niềm tin tôn giáo, về xu hướng chính trị, về bản sắc văn hóa,v.v. . .) không thể bị đàn áp, vì đây là dấu hiệu của nền dân chủ thực sự. Vì bản chất của chế độ dân chủ là chấp nhận sự phát triển theo sắc thái riêng của địa phương, nên trên lập trường quốc gia, cần phải khuyến khích sự phát triển Tinh thần Dân tộc Hòa hợp, để duy trì sự thống nhất dân tộc, thực hiện nguyên lý Đồng của các thành phần Bất Đồng.
Tinh thần Dân tộc Hòa hợp cần được ghi vào Lời Mở Đầu của Hiến Pháp vì đây là sự cần thiết và sống còn của Dân tộc, đây là cốt lõi của sự thống nhất quốc gia và là sức mạnh của đất nước.
Trong lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, dân tộc Việt Nam đã bị phân hóa rất nhiều bởi ý muốn chia rẽ địa phương của thực dân, bởi bản chất chia rẽ qua đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa cộng sản, và bởi xu hướng chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo để dễ cai trị của các chánh quyền độc tài. Ngày nay và tương lai, các thế hệ Việt Nam phải ra sức hàn gắn để thực hiện cho bằng được Dân tộc Hòa hợp.
Dân tộc Hòa hợp không có nghĩa là áp bức người khác phải theo bản sắc của mình và áp bức người khác chấp nhận chân lý của mình, bởi đó chúng ta mới có vấn đề nhiều Tiểu bang trong một Cộng hòa Liên bang Việt Nam.
Tuy nhiên, trong tương lai các chánh quyền cần phát triển các phương tiện giao thông và truyền thông, khuyến khích sự đi lại và thông thương giữa người ở các địa phương để dần dần chan hòa sự khác biệt địa phương, bao dung và cởi mở chấp nhận sự khác biệt bản sắc của những thành phần khác, và mục đích sau cùng là mọi người tự động thực hiện Dân tộc hòa hợp từ trong tâm khảm của mình.
Cũng trong tinh thần dân chủ đa nguyên và dân tộc hòa hợp, mọi người phải tôn trọng bản sắc văn hóa của các sắc tộc thiểu số, đồng thời các chánh quyền tương lai phải tạo điều kiện phát triển giao thông và truyền thông để đem ánh sáng của nền văn minh nhân loại đến với họ, giúp họ phát triển và nâng cao đời sống.
Tinh thần Dân tộc Hòa hợp cùng với Tinh thần Dân chủ Đa nguyên sẽ trở thành ý chí chung của dân tộc, một nếp sống văn hóa mới và tự nhiên của mọi người Việt Nam trong Quốc gia Lý tưởng (điển hình như trường hợp Hoa Kỳ và Canada). Đó là ý muốn chánh đáng và cao đẹp của nhà lập hiến dân chủ.

Wednesday, June 20, 2012

Hưng Việt Đạo là gì?


Hưng Việt Đạo là một chương trình hành động cụ thể áp dụng trong đời sống người Việt Nam. Hưng Việt Đạo được hình thành để làm cho công cuộc phát triển Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam Hưng Thịnh. Con đường nào đưa đến sự hưng thịnh cho đất nước ta giàu mạnh, văn minh thì con đường đó là Hưng Việt Đạo.

Hưng Việt Đạo không dựa vào bất cứ triết lý nào, nhưng không chối bỏ bất cứ triết lý nào nếu nó có thể thực thi mà đem lại kết quả tốt đẹp cho dân tộc Việt nam.

Chương trình ấy là gì?

Bắt đầu từ con người.
Thời cuộc
Xã hội
Tổ chức

Hồng Đức

Lấy Dân làm gốc

Lấy Dân là gốc
Nguyên tắc dân bản để toàn dân xây dựng lực lượng bảo vệ tổ quốc trong hòa bình.
1. Toàn dân có nhiệm vụ về quốc phòng.
a. Dân tộc sinh tồn (Nhân dân tự vệ) b. Phát triển kinh tế tư bản mới ổn định phát triển được kinh tế xã hội, và ngược lại.
2. Nhân dân thành lập quân đội, thành lập cảnh sát, thành lập chính quyền
3. Nhân dân làm chủ và lãnh đạo tổng thể, Chính quyền phục vụ cho nhân dân, quân đội có trách nhiệm trực tiếp trong nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc bằng kế hoạch cứng. Chính quyền bảo vệ tổ quốc bằng kế hoạch mềm trong ngoại giao.
4. Cảnh sát nhân dân và toà án nhân dân ổn định trật tự xã hội dân bản.
5. Sai lầm của đảng cộng sản việt nam, và hành vi mất lý luận chỉnh trị toàn diện, a. Đảng CSVN đã mất mục tiêu chiến đấu bảo vệ tổ quốc, i. (không thể tiếp tục chỉ đạo quân đội, công an, và hạ tầng xã hội (social infrastructure)). b. Đảng CSVN có tội làm mất trật tự xã hội trong trách nhiệm phục vụ nhân dân của một đảng chính trị.
Quyền Tự Vệ của Toàn Dân
- Nhân dân lãnh đạo tổng thể
- Nhân dân làm chủ quốc gia
- Nhận định rõ ràng “Nhân dân là ai”?
Hưng Việt Đạo – Là Dân Đạo
Đạo của người dân.
Con đường thoát của đảng cộng sản Việt nam.

LUẬN VỀ KHÁI NIỆM DÂN VI BẢN

LUẬN VỀ KHÁI NIỆM DÂN VI BẢN
Hồng Đức
Dân Lập, Dân Quyền, Dân Trị, Dân Sinh, Dân Đạo...
Muốn cứu dân - cho dân nói lên lập trường; điều này do dân.
[Dân Lập] Muốn dân có lập trường - cho dân quyền tự vệ; điều này do luật.
[Dân Quyền] Muốn dân có quyền tự vệ - cho dân sức mạnh từ các thế lực đấu tranh chính trị, vì dân.
[Dân Trị] Muốn dân có sức mạnh chính trị - cho dân no,dân tự do làm ăn kinh tế, dân giàu.
[Dân Sinh]Muốn dân giàu - tất cả mọi thế lực tổng thể từ tài nguyên đất nước đến trí tuệ, phát minh và thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều phải từ phát sinh đến kết quả phải theo đạo phục vụ nhân dân (con người là chính yếu), phải cho dân được, và tự do phát triển. [Dân Đạo]
Muốn làm năm việc trên:
Dân tộc Việt nam ta cần đấu tranh liên tiếp không ngừng. Mục tiêu đấu tranh là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, bảo vệ dân bản, bảo vệ sức cạnh tranh của dân tộc với thế giới. Ba việc này cần phải được hợp tác thi hành bởi toàn dân, cùng với mọi đảng phái đấu tranh, quân đội, và cảnh sát.
1. [Dân Lập] Dân lo xây dựng cho nước giàu mạnh, đảng phái xây dựng chính đạo quốc gia, quân đội bảo vệ tổ quốc, cảnh sát bảo vệ toàn dân.
2. [Dân Quyền] Muốn bảo vệ cho sự phát triển này được thành công, sự hợp tác tổng thể của bốn thế lực: dân, đảng, quân đội, cảnh sát mới được gọi là công việc quốc phòng. Quốc Phòng, là nhiệm vụ của toàn dân, toàn đảng để bảo vệ quyền lợi của toàn dân, tài nguyên quốc gia, vị thế chính trị kinh tế và sự vẹn toàn từ lãnh thổ, lãnh hải, tới không gian của tổ quốc Việt nam.
3. [Dân Trị] (chứ không thể trị dân) Mọi đảng phái và nhà nước cũng lập ra bởi dân để bảo vệ quyền lợi cho tổ quốc và toàn dân, chứ không để dùng các thế lực bảo vệ cho riêng bất cứ tập đoàn độc tài nào cả, kể cả các tập đoàn tài phiệt (corporations)…
4. [Dân Sinh] Quốc phòng bị yếu thì nước bị xâm lược, dân nghèo khổ, thế chính trị và kinh tế của tổ quốc trên trường quốc tế cũng không được tôn trọng, không được đầu tư hợp tác tốt đẹp, dân bị nghèo là do sự ảnh hưởng quyền lợi của dân và tổ quốc bị nhà nước tổ quốc ta thi hành trật đường.
Để biết trật hay trúng?
5. [Dân Đạo]
Dân có được thi hành tốt đẹp về quyền tự do hội tụ để nói lên lập trường chung không?
Dân có được tự do biểu tình không?
Dân có được luật pháp bảo vệ khi bị các thế lực nhà nước, đảng phái, quân đội, công an đàn áp không? Dân có được sức mạnh tự vệ không?
Dân có đủ sức mạnh chính trị không?
Dân có được tự do làm ăn, và khả năng lo cho nếp sống già đình, giáo dục, sức khỏe, bảo vệ tài sản và các nhu yếu cần thiết nhất không?
Tài nguyên tổ quốc có bị xâm phạm không?
Các thế lực có tổ chức bảo vệ dân và lãnh thổ tổ quốc hữu hiệu không?
Các thế lực và toàn dân có đoàn kết một lòng hợp tác với nhau không?
Nếu như dân và lực không được cân đối, hợp tác, đất nước không được phát triển. Nhiệm vụ của dân và lực là tùy yếu mạnh giưa các phía để hợp tác cạnh tranh. (Check and balance). Duyệt xét và quân bình nhau là nhiệm vụ chính yếu của tống thể.
Khi được duyệt xét và quân bình sức mạnh quốc gia, thì quốc phòng được phát triển.
Khi quốc phòng được phát triển. Thì sức mạnh của tổ quốc và dân tộc ta mới có uy thế làm cho thế giới nễ phục và cộng tác mạnh. Đó cũng là giai đoạn cần thiết.
Đất nước ta hiện nay chưa được phát triển quân bình, nên thế giới lo sợ cho chính họ, vì thế họ cũng không đầu tư hợp tác kinh tế lâu dài, dân mất cơ hội làm ăn phát triển.
Lý do là nhà nước và dân không được quân bình thế lực, sức mạnh tổng thể từ đó suy yếu...
Hãy nhìn lại vấn đề tổng thể dân bản nói trên đây mà xét lại bản chất của mình. Lực nào trật, lực khác đứng lên hợp tác để quân bình hoặc thay đổi. Tất cả chỉ vì sự vẹn toàn lãnh thổ và hạnh phúc của toàn dân tộc Việt Nam. Mục đích chính của mọi công cuộc giải phóng là duyệt xét và quân bình để phát triển Quốc Phòng./.

Làm sao để giành thắng lợi cho một Xã Hội Nhân "Dân Chủ" Nghĩa

Tất cả mọi thế lực sức mạnh đều có sự lo sợ và thế yếu.
Trong khi nhân dân sợ công an, chính quyền, cho nên công an dựa thế hoành hành Chính quyền thì lo sợ sự thật, vì họ dựa vào đảng dối trá để cũng cố thế mạnh.

Sức mạnh của toàn dân có ba thế:
- Thế luật
- Thế đông
- Thế sự thật

Nếu nhân dân cần bênh vực cho nhau, chỉ có thể dựa vào:
- Luật. Đây là sức mạnh xã hội bảo vệ cho toàn dân có trật tự
- Tương trợ, tương ứng, tương cầu, vì họ có tương tâm. Đây là đồng tâm hiệp lực.
- và Minh bạch, công minh, chính đường. Nghĩa là làm tất cả trong phương diện thứ tự, có trật tự. Dựa vào sự thật của pháp luật, sức dân, tâm lực của dân tương trợ nhau thì không sợ bất cứ điều sản bậy của Công an, hay chính quyền bị một đảng chính trị đứng sau lưng làm cho đất nước kiệt cùng, ngụy bại.

Và sức dân có thể hợp lại đúng, hành động rõ ràng, đó là cái thế quân bình: Check and Balance trong thể chế xã hội dân chủ. Cái xã hội dân chủ, nó cũng đâu khác gì "ngụy từ: Xã hội chủ nghĩa"?. Trong khi đảng cộng sản Việt nam phô trương họ dân chủ, và họ nói "Xã hội chủ nghĩa". Chứ "xã hội dân chủ nghĩa", và "xã hội chủ nghĩa" có khác cái gì? hay là nó khác ở chổ "Xã hội đảng trị chủ nghĩa"?

Vấn đề là khi có cân đối quyền lực giữa nhân dân, và chính quyền, thì nhân dân là nhân dân, đảng chính trị là đảng chính trị, nhà nước là nhà nước, công an là công an, quân đội là quân đội. Nó có công bằng, có độc lập, và tùy ở hiến pháp và hệ thống pháp trị của nhà nước để thống nhất toàn dân xây dựng xã hội dân chủ nghĩa.

Chính vì thế, cái thế "không sợ sự thật, dựa vào sự thật mà làm, làm đúng theo trật tự pháp luật, là làm hợp pháp" thì dân không sợ chính quyền, chính quyền làm đúng việc của dân đệ cử, còn đảng phái chính trị nào tốt, hay, có lập trường bảo vệ dất nước, phát triển xã hội nhân dân chủ nghĩa, thì đảng đó cầm quyền trong thời hạn có định rõ.

Họ không cần phải bôn ba lo bắt người yêu nước, và ép công an phải làm theo họ.
Đảng cộng sản Việt nam sợ cái gì?
- Họ sợ pháp luật - Họ sợ sự thật - Họ sợ nhân dân Chính vì thế, họ luôn luôn áp đặt "Pháp luật là họ", "tuyên truyền để che áp sự thật", và "hảm hiếp mỹ từ "nhân dân".
Cái mà dân cần giành lại là chuyên tâm thực thi đúng "pháp luật" làm sức mạnh cho hành động tổ chức tập thể, độc lập; làm theo sự thật; và tận dụng quyền lực nhân dân.
Ba điểm này sẽ giúp cho nhân dân giành đúng công bằng xã hội dân chủ nghĩa, và nó quyết định cho cái rõ ràng, muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa, thì toàn dân quyết định thực hiện đúng cái gì thật sự của chính mình, không phải của đảng cộng sản việt nam:
1. Pháp luật của dân, cho dân
2. Sự thật đó là: công bằng xã hội phải có trật tự và sự quan sát của dân. Quan sát đó là:
2.1. chủ quyền xã hội, tổ quốc của dân, do dân sở hữu.
2.2. chính quyền phục vụ cho dân, vì dân, của dân. Không của đảng phái nào.
2.3. mọi đảng phái chính trị cũng từ dân mà ra, cũng như Cảnh sát, Quân đội. Vì thế,
2.3.1. đảng chính trị phục vụ dân, không phục vụ riêng quyền lợi của đảng
2.3.2. cảnh sát là bộ máy phục vụ dân, vì an ninh trật tự xã hội. Chứ không phục vụ vì an ninh trật tự, bảo kê cho bất cứ bè phái mafia nào làm nguy hại đến quyền lợi của dân và xã hội, tổ quốc Việt nam. Đó là cách tốt nhất chống tham nhũng: không bảo kê hay làm theo chỉ đạo của bè phái tham nhũng trong đảng phái.
2.3.3. quân đội của nhân dân, phục vụ cho nhân dân tổ quốc. Quân đội không thể là tài sản của riêng một đảng phái. Vì trong lịch sử chíên tranh, và các nạn chia rẽ tổ quốc, phần chính là đảng phái chính trị lập riêng quân đội đảng, cho nên gây ra nạn chiến tranh và tàn phá tổ quốc. Quân đội nhân dân là của dân. Không bao giờ là của đảng.

3. Vậy, nhân dân phải biết cái gì là của nhân dân: quyền lợi nhân dân. Muốn có quyền lợi nhân dân, thì nhân dân biết rõ quyền lực của mình. Muốn biết quyền lực của nhân dân là gì? Quyền lực nhân dân là những thứ không thể nào, nhất định rõ ràng, không thể nào nhân dân là quyền lực của riêng một đảng. Và điểm chính của mâu thuẫn cần giải quyết nhất định, đó là: tất cả cái gì trong tổ chức xã hội có mang danh nghĩa nhân dân là của dân, không phải của đảng cộng sản Việt nam.

Hưng Việt Đạo