Thursday, June 21, 2012

Kinh tế thị trường: Lao Động và Tư Bản.

[13/17] Những tư tưởng nền tảng của Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam Tương lai
Dương Thái Sơn, 2001

13. Kinh tế thị trường: Lao Động và Tư Bản.
Đã theo kinh tế thị trường thì không thể hô hào đấu tranh giai cấp và cổ võ hận thù giai cấp. Đây là thế bí đầy thất bại của chủ nghĩa cộng sản hiện nay.
Trên thực tế, sự cổ võ đấu tranh giai cấp là một sai lầm to lớn nhứt mà Đảng Cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, vì nó là đầu mối đưa đến tương khắc Quốc Cộng với không biết bao nhiêu hệ lụy cho dân tộc và đất nước.
Về mặt lý luận, thuyết đấu tranh giai cấp đã sai lầm ngay tại khởi điểm. Sau khởi điểm đó thì các sự lý luận của Marx có vẻ hợp lý trong lý luận biện chứng pháp của ông. Karl Marx đã chọn tác động tương khắc để giải quyết vấn đề Tư Bản và Lao Động, mà ông không biết đến tác động tương sinh của chúng. Vì sai lầm ngay từ khởi điểm nên từ đó ''sai một ly đi vạn dậm'', ông viết nên thuyết đấu tranh giai cấp rồi hệ luận là chế độ chuyên chính vô sản với bạo lực cách mạng, và kết quả cuối cùng mà ông tưởng tượng là giai cấp vô sản được giải phóng và thiên đường cộng sản được thành lập trên thế gian này.
Nếu chiếu theo qui luật tương sinh và tương khắc để biến hóa của thế giới bất đồng, người khách quan sẽ nhìn thấy tất cả lý thuyết trường thiên đó đều nằm trên tiến trình theo chiều hạ của sự tương khắc giữa các thế lực bất đồng, trong đó tác động hủy diệt của các thế lực bất đồng cứ tiếp tục xảy ra triền miên và kết quả dẫn đến Xã hội âm phủ thay vì dẫn đến Thiên đường cộng sản như Marx mơ ước trong lý luận của ông.
Sự khủng hoảng của người cộng sản hôm nay chính là sự khủng hoảng của những người đã đạt đến bến bờ âm phủ. Những nước cộng sản tiền phong là Liên Xô và các quốc gia Đông Âu đã nhìn thấy bến bờ âm phủ trước nhứt và họ đã mạnh dạn thực hiện cuộc cách mạng Dân chủ chính trị và Tự do kinh tế, trong khi bốn nước cộng sản còn lại là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba thì còn đang lạng quạng bên bờ âm phủ. Ông Hà Sĩ Phu đã mô tả bến bờ âm phủ mà ông đã nhìn thấy như sau trong bài ''Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ'':
''Chúng ta có trong tay mình một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược, lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên. Vì thế mà không một qui luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát triển được tác dụng, thành ra cái tinh thua cái thô, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ. .. và con người phải đi giật lùi.''
Nhưng vì sự sai lầm nằm trong bản chất của lý thuyết nên khi bỏ qua sai lầm này thì lại có sai lầm khác. Sự sai lầm căn bản thuộc về bản chất là xã hội cộng sản luôn luôn nằm trên tiến trình tương khắc hủy diệt, nên kết quả thực tế là sức mạnh xã hội bị tiêu hao hủy diệt chứ không thể có phát triển thịnh vượng được, trong khi lý thuyết thì cứ bảo rằng càng đấu tranh càng thắng lợi thì xã hội càng mạnh! Nghịch lý giữa lý thuyết cộng sản và thực tế là chỗ đó! Càng đi xa thì càng đi đến Xã hội Âm phủ của phá sản và băng hoại, thay vì Thiên đường trong đó con người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu như Marx nói.
Tại các nước cộng sản, các lý thuyết gia cũng như người cộng sản ''hồ hỡi phấn khởi'' tin tưởng đấu tranh giai cấp sẽ đưa họ đến thiên đường cộng sản theo như lịch sử tiến hóa của xã hội mà Marx đã vẽ ra. Họ cứ tiếp tục đấu tranh và tiềm lực xã hội của họ mỗi ngày một tiêu tan dần vì tất cả hệ thống xã hội đều bị nằm trên tiến trình tương khắc đưa đến sự hủy diệt.
Trong khi đó tại các nước tư bản, giới tư bản đã không bị giẫy chết như Marx tiên đoán, mà ngược lại càng ngày càng thành công, đến độ ông Nguyễn Hộ với 78 tuổi đời , 57 tuổi đảng đã thống thiết nhìn nhận trong bài ''Quan điểm và Cuộc sống'':
''Thưa các ngài tư bản,
''Từ lâu, đi theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, chúng tôi đã tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm tiêu diệt chủ nghĩa tư bản của các ngài; và thật sự, chúng tôi - phe xã hội chủ nghĩa - đã tiêu diệt được chủ nghĩa tư bản của các ngài trên qui mô rộng lớn của thế giới trong một thời gian khá dài. Thế nhưng chúng tôi đã thất bại do không tuân thủ qui luật khách quan trong việc xây dựng một phương thức sản xuất mới nhưng rất yếu đuối, trì trệ, không đem lại một năng suất lao động cao, một sự phồn vinh và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, xã hội; và do đó, nó không có khả năng gì để thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thật sự hoàn thiện, có sức hấp dẫn, thu hút mạnh mẽ của các ngài, và nó đã sụp đổ. Vì vậy, giờ đây chúng tôi phải học tập các ngài, học tập chủ nghĩa tư bản, làm theo mô hình tư bản chủ nghĩa của các ngài, và tất nhiên phải từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê-nin - chủ nghĩa cộng sản - đã quá lỗi thời để tiến kịp theo các ngài trên con đường tiến hóa của lịch sử.'' (Báo Thời Luận ngày 30/6/94).
Tại sao tư bản không chết mà lại thành công lẫy lừng như thế? Vì Tư bản và Lao động không nằm trong tiến trình tác động tương khắc mà nằm trong tiến trình tác động tương sinh.
Các chế độ tư bản bóc lột hồi thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở các nước Tây phương đã được chánh quyền can thiệp để cải thiện, điều chỉnh hai thế lực bất đồng này từ vị trí tương khắc sang vị trí tương sinh. Khẩu hiệu ''Lao Tư hợp tác lưỡng lợi'' được nêu cao bởi cả giới chủ lẫn giới thợ là một chứng minh cho sự hiện hữu của tiến trình hợp tác tương sinh trong xã hội kỹ nghệ Tây phương. Đồng thời, những định chế để điều chỉnh sự tương khắc trong quan hệ sản xuất chủ thợ được thành hình với những Bộ Luật và Tòa án Lao động, quyền tự do nghiệp đoàn, quyền đình công, quyền bế xưởng, bảo hiểm lao động, bảo hiểm thất nghiệp,v.v . .. Xa hơn nữa, chánh quyền còn can thiệp bằng những phương tiện pháp định để tái phân lợi tức trong xã hội giữa người giàu và người nghèo, khiến cho hiện tượng đấu tranh giai cấp không hề xảy ra. Đây là những điều mà chúng ta phải học ở mô hình tư bản chủ nghĩa cải tiến ở hậu bán thế kỷ 20, mà ông Nguyễn Hộ đã nói, để điều chỉnh hai thế lực bất đồng từ vị trí tương khắc sang vị trí tương sinh.
Sức mạnh của xã hội không bị tiêu hao. Mọi tiềm lực của xã hội từ trí tuệ, lao động, tư bản . .. đều được gom vào diễn trình sản xuất, làm cho nền sản xuất quốc gia phong phú và đất nước chóng cường thịnh. Lịch sử tiến tới theo chiều thượng của quá trình tương sinh. Điều này, những người cộng sản như Marx, Lênine, Mao, Hồ, v.v. .. đều không nhìn thấy trong lịch sử tiến hóa theo lý luận của họ vì họ đã sai ngay từ khởi điểm.
Nói tóm lại, các thành phần bất đồng trong xã hội luôn luôn tác động với nhau theo qui luật tương sinh và tương khắc. Sự khôn ngoan của những người lãnh đạo nhân quần xã hội là biết tổ chức như thế nào để điều chỉnh các thế lực bất đồng từ vị trí tương khắc sang vị trí tương sinh, để tránh sự tiêu hao băng hoại do sự tương khắc, đồng thời bồi dưỡng tác động tương sinh để làm nẩy nở sinh lực và phát triển các tiềm lực của xã hội. Làm được như vậy thì xã hội sẽ tự động phát triển và hùng mạnh thực sự, không cần phải biện luận dong dài như những nhà lý thuyết cộng sản để ngụy biện cho những thực tế phủ phàng hậu quả của quá trình tương khắc.
Thế tương khắc của đấu tranh giai cấp đã là đầu mối của bao nhiêu thảm họa trong lịch sử đất nước hơn 50 năm qua. Trong những thảm họa đó có thảm họa lớn nhứt là tương khắc Quốc Cộng. Bởi vậy, Hiến pháp Quốc gia Lý tưởng phải giải quyết vấn đề Lao Động và Tư Bản theo chiều hướng hợp tác tương sinh để làm sinh trưởng các tiềm lực dân tộc, thay vì theo chiều hướng tương khắc hủy diệt của đấu tranh giai cấp.